Tên thành viên

Mật khẩu


Báo cáo số 0772TM/XNK ngày 2/04/2003 của Bộ Thương mại về việc báo cáo kết quả họp giao ban xuất khẩu quý 1/2003

Bản Tiếng Việt
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 0772TM/XNK   Loại văn bản: Văn bản khác
Nơi ban hành: Bộ Thương mại   Người ký: Trương Đình Tuyển
Ngày ban hành: 02/04/2003   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật   Số công báo: Đang cập nhật
      Tình trạng: Đã biết

Ngày 02/04/2003, Bộ Thương mại đã có Báo cáo số 0772TM/XNK về việc báo cáo kết quả họp giao ban xuất khẩu quý 1/2003.

Về tình hình xuất khẩu quý I/2003:

Kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đạt 3,044 tỷ USD, tăng 53% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó nhiều mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao như cao su (+118%), cà phê (+40,7%), gạo (+322,5%), hạt điều (+67,5%), dầu thô (+73,5%), thủy sản (+33,2%), hàng dệt máy (+93,2%), giày dép (22,9%), hàng điện tử (21,6%). Ước kim ngạch xuất quý I đạt 4,66 tỷ USD, tăng 43% so với quý I năm 2002. Tình hình xuất khẩu quý I năm nay có một số điểm đáng lưu ý như sau:

- Tốc độ tăng trưởng trong những tháng đầu năm đạt mức cao là do xuất khẩu tiếp tục duy trì được đà của những tháng cuối năm 2002, trong khi cơ số so sánh là những tháng đầu năm có kim ngạch ở mức thấp của năm 2002. Tuy nhiên, do xuất khẩu năm 2002 bắt đầu hồi phục từ quý II và tình hình thị trường thế giới có những biến động theo chiếu hướng không thuận lợi, khó lường sau cuộc chiến Irắc nên dự báo tốc độ tăng trưởng xuất khẩu luỹ kế trong những quý tiếp theo của năm nay sẽ có xu hướng giảm dần. Nhưng với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ, các Bộ, ngành và sự cố gắng của doanh nghiệp, vẫn có khả năng sẽ đạt được mức phấn đấu 18,5 tỷ USD, tăng 11% so với kim ngạch xuất khẩu năm 2002.

- Xuất khẩu quý I có sự tăng trưởng khá đồng đều ở cả 3 khu vực: nhiên liệu khoáng sản (+58%), nông thuỷ sản (+32%), hàng công nghiệp chế biến (+50%) và giữa khối FDI (+52,4%) và khối trong nước (+34,4%). Về nông sản, ngoại trừ cà phê, hạt tiêu, rau quả, lạc nhân, các mặt hàng khác đều có lượng xuất khẩu tăng khá như cao su, gạo, hạt điều, chè. Riêng giá xuất khẩu bình quân của gạo giảm chủ yếu là do ta chuyển hướng xuất khẩu vào các thị trường khác ngoài Irắc nên giá bình quân đạt thấp hơn.

- Về thị trường xuất khẩu, nét nổi bật là kim ngạch vào tất cả các thị trường chủ lực đều có tăng trưởng, trong đó kim ngạch vào thị trường Hoa Kỳ sau 2 tháng đạt 590 triệu USD tăng 350% so với cùng kỳ năm 2002; xuất khẩu vào Châu Á tăng 35,6% (ASEAN + 78%, Nhật bản + 24%, Trung Quốc 11%), xuất khẩu vào các nước EU cũ tăng 30%, Australia +97%. Cơ cấu thị trường có sự chuyển dịch rất rõ theo hướng tỷ trọng của Hoa kỳ tiếp tục tăng nhanh (hiện đã chiếm tới 19,3% kim ngạch xuất khẩu) và trở thành thị trường lớn nhất của Việt Nam. Tỷ trọng của khu vực Châu Á có xu hướng giảm khá rõ, hiện chỉ chiếm khoảng 45% (tỷ trọng của Châu Á trong xuất khẩu năm 2001 là 56%, năm 2002 là 50%). Riêng xuất khẩu vào Irắc sau 2 tháng chỉ đạt 25,3 triệu USD, giảm 31% so với cùng kỳ năm 2002.

Tại Hội nghị, Bộ Thương mại đã báo cáo tóm tắt về những tác động của cuộc chiến tại Irắc đối với hoạt động xuất khẩu của ta và lưu ý các doanh nghiệp đang xuất khẩu vào Irắc tiến hành các thủ tục cần thiết để thông báo tới Liên hợp quốc về tình hình thực hiện hợp đồng xuất khẩu với Irắc; ngoài ra các doanh nghiệp cũng nên chủ động liên hệ với một số Đại sứ quán của các nước Pháp, Đức v.v... để tìm kiếm khả năng cung cấp hàng viện trợ cho Irắc. Bộ Thương mại sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình này.

 

46