Tên thành viên

Mật khẩu


Quy định số 673/1997/TCHQ-KTTT về lệ phí cà phê xuất khẩu do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành, để thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thu lệ phí cà phê xuất khẩu

Bản Tiếng Việt
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 673/1997/TCHQ-KTTT   Loại văn bản: Văn bản khác
Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan   Người ký: Nguyễn Xuân Tú
Ngày ban hành: 01/03/1997   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật   Số công báo: Đang cập nhật
      Tình trạng: Đã biết

Ngày 01/03/1997, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành Quy định số 673/1997/TCHQ-KTTT về lệ phí cà phê xuất khẩu để thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thu lệ phí cà phê xuất khẩu.

Để thực hiện các quyếtđịnh trên, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quy định tạm thời về việc thu lệphí cà phê xuất khẩu như sau:

1- Cục trưởng Cục Hải quan các địa phương chỉ đạo triển khaithu lệ phí cà phê xuất khẩu của các tổ chức xuất khẩu cà phê đối với tất cả cáclô hàng cà phê xuất khẩu trong năm 1997. (Trường hợp chưa truy thu phải truythu).

2- Mức thu lệ phí tạm thời thực hiện theo đề nghị của Hiệphội cà phê ca cao Việt Nam đã được Bộ Tài chính chấp thuận là: 1USD/1 tấn càphê xuất khẩu.

3- Chứng từ thu sử dụng biên lai thu lệ phí Hải quan(01-LPHQ); dùng quyển riêng để thuận lợi cho việc theo dõi kiểm tra và quyếttoán.

4- Thủ tục thu nộp lệ phí: Thu ngay khi làm thủ tục xuấtkhẩu và phải nộp 100% vào Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc địa phương, vào mục044, tiểu mục 15 theo chương, loại, khoản tương ứng.

Trước khi chuyển nộp ngân sách, số tiền thu lệ phí gửi vàoTài khoản tạm giữ của Hải quan mở tại Kho bạc. Hàng tháng tổng hợp số thu, đốichiếu với Kho bạc làm thủ tục chuyển nộp ngân sách và báo cáo về Tổng cục Hảiquan.

5- Kế toán thu lệ phí cà phê xuất khẩu được hạch toán vàphản ánh thành chỉ tiêu riêng trong Bảng cân đối kế toán và các báo cáo kế toánkhác. Sơ đồ kế toán thực hiện như sơ đồ kế toán thu nộp lệ phí Hải quan, mởtiểu khoản theo dõi riêng.

6- Tổng cục Hải quản sẽ làm việc với Hiệp hội cà phê ca caoViệt Nam và Bộ Tài chính về số trích tỷ lệ để lại cho ngành Hải quan trên sốtiền lệ phí thu được.

58