• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Luật trọng tài thương mại


 

Công văn 07/TANDTC-KHXX năm 2015 về thi hành pháp luật trọng tài thương mại do Tòa án nhân dân tối cao ban hành

Tải về Công văn 07/TANDTC-KHXX
Bản Tiếng Việt

TÒA ÁN NHÂN DÂN
T
I CAO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 07/TANDTC-KHXX
V/v thi hành pháp luật trọng tài thương mại

Hà Nội, ngày 13 tháng 01 năm 2015

 

Kính gửi:

- Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Các Tòa phúc thẩm, Tòa kinh tế và các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

 

Ngày 17-06-2010, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Trọng tài thương mại, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2011. Triển khai thi hành Luật Trọng tài thương mại, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/03/2014 về việc hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại. Để thực hiện đúng các quy định của Luật trọng tài thương mại, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các Tòa chuyên trách, các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao thực hiện đúng một số vấn đề sau đây:

1. Khi thụ lý, giải quyết các yêu cầu liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại về chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc; thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc; yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ; yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; triệu tập người làm chứng; yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thì phải được Tòa án xem xét và quyết định theo đúng các quy định của Luật Trọng tài thương mại, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/03/2014 về việc hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

2. Thực hiện quy định tại khoản 10 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại và Công văn số 810/UBTVQH13-TP ngày 26-12-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đối với các yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đã được Tòa án thụ lý, giải quyết theo quy định tại các điều 68, 69, 70 và 71 Luật Trọng tài thương mại thì Tòa án có quyền ra quyết định hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài. Quyết định của Tòa án hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng, có hiệu lực thi hành và không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Do vậy, khi xem xét, giải quyết loại yêu cầu này các Tòa án cần thận trọng, xem xét khách quan toàn diện các tài liệu, chứng cứ, các vấn đề khác của vụ việc và căn cứ vào pháp luật hiện hành để có quyết định chính xác, từ đó góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

3. Trường Cán bộ Tòa án, Tòa Kinh tế, Viện khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao thường xuyên tổng kết những vướng mắc, bất cập phát sinh trong quá trình thi hành Luật Trọng tài thương mại, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/03/2014 về việc hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản giải thích hướng dẫn kịp thời hoặc tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, cán bộ các Tòa án.

4. Trong quá trình áp dụng các quy định của Luật Trọng tài thương mại, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/03/2014 về việc hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại nếu có vấn đề vướng mắc cần được giải thích, hướng dẫn thì phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Viện khoa học xét xử) để Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật giải thích, hướng dẫn.

Sau khi nhận được Công văn này, các đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các đồng chí Chánh tòa Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao, các đồng chí Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao cần tổ chức quán triệt ngay cho các Thẩm phán, cán bộ trong đơn vị mình để việc thi hành Luật Trọng tài thương mại được thực hiện đúng và thống nhất.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Đ/c Chánh án TANDTC (để báo cáo);
- Các đ/c Phó Chánh án TANDTC;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Cổng thông tin điện tử của TANDTC (để đăng tải);
- Lưu: VP, Viện KHXX (TANDTC).

KT. CHÁNH ÁN
PHÓ CHÁNH ÁN




Nguyễn Sơn

 

Điều 71. Toà án xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài
...

10. Quyết định của Toà án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Ðiều 68. Căn cứ huỷ phán quyết trọng tài

1. Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một bên.

2. Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;

b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;

c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;

d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;

đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

3. Khi Tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, nghĩa vụ chứng minh được xác định như sau:

a) Bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều này có nghĩa vụ chứng minh Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong các trường hợp đó;

b) Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài.

Điều 69. Quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp.

2. Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

Điều 70. Đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài

1. Đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên và địa chỉ của bên có yêu cầu;

c) Yêu cầu và căn cứ huỷ phán quyết trọng tài.

2. Kèm theo đơn yêu cầu phải có các giấy tờ sau đây:

a) Bản chính hoặc bản sao phán quyết trọng tài đã được chứng thực hợp lệ;

b) Bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ.

Giấy tờ kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được chứng thực hợp lệ.

Điều 71. Toà án xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài

1. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, Toà án có thẩm quyền thông báo ngay cho Trung tâm trọng tài hoặc các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc, các bên tranh chấp và Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý, Chánh án Toà án chỉ định một Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được chỉ định, Hội đồng xét đơn yêu cầu phải phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Tòa án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày làm việc trước ngày mở phiên họp để tham dự phiên họp của Tòa án xét đơn yêu cầu. Hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp xem xét đơn yêu cầu.

3. Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp, luật sư của các bên, nếu có, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp một trong các bên yêu cầu Hội đồng xét đơn vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc rời phiên họp mà không được Hội đồng chấp thuận thì Hội đồng vẫn tiến hành xét đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài.

4. Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định tại Điều 68 của Luật này và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định; không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết. Sau khi xem xét đơn và các tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của những người được triệu tập, nếu có, Kiểm sát viên trình bày ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số.

5. Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra quyết định huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài. Trong trường hợp bên yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài rút đơn hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc rời phiên họp mà không được Hội đồng chấp thuận thì Hội đồng ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

6. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định cho các bên, Trung tâm trọng tài hoặc Trọng tài viên Trọng tài vụ việc và Viện kiểm sát cùng cấp.

7. Theo yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tài theo quan điểm của Hội đồng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài. Hội đồng trọng tài phải thông báo cho Tòa án biết về việc khắc phục sai sót tố tụng. Trường hợp Hội đồng trọng tài không tiến hành khắc phục sai sót tố tụng thì Hội đồng tiếp tục xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

8. Trường hợp Hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định hủy phán quyết trọng tài, các bên có thể thỏa thuận lại để đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại Trọng tài hoặc một bên có quyền khởi kiện tại Tòa án. Trường hợp Hội đồng xét đơn yêu cầu không hủy phán quyết trọng tài thì phán quyết trọng tài được thi hành.

9. Trong mọi trường hợp, thời gian giải quyết tranh chấp tại Trọng tài, thời gian tiến hành thủ tục hủy phán quyết trọng tài tại Tòa án không tính vào thời hiệu khởi kiện.

10. Quyết định của Toà án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Văn bản gốc
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 07/TANDTC-KHXX   Loại văn bản: Công văn
Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao   Người ký: Nguyễn Sơn
Ngày ban hành: 13/01/2015   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật   Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Thương mại, đầu tư, chứng khoán, Tố tụng và các phương thức giải quyết tranh chấp   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Công văn 07/TANDTC-KHXX

828

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
281162