• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12
 

Công văn 18615/BTC-TCHQ năm 2014 thực hiện điểm 3 công văn 17428/BTC-TCHQ về xử lý vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật thuế do Bộ Tài chính ban hành

Tải về Công văn 18615/BTC-TCHQ
Bản Tiếng Việt

BỘ TÀI CHÍNH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 18615/BTC-TCHQ
V/v thực hiện điểm 3 công văn số 17428/BTC-TCHQ

Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2014

 

Kính gửi: Các Cục Hải quan tỉnh, thành phố.

Căn cứ quy định tại Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, trên cơ sở ý kiến tham gia của Thanh tra Chính Phủ, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Tư pháp; Ngày 22/12/2011, Bộ Tài chính đã có công văn số 17428/BTC-TCHQ hướng dẫn về việc xử lý vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật thuế trong đó có nội dung hướng dẫn xác định thời hiệu xử phạt đối với hành vi chậm nộp tiền thuế quy định tại khoản 2 Điều 110 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 (điểm 3 công văn 17428/BTC-TCHQ).

Nay, căn cứ quy định tại khoản 35 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 về việc sửa đổi Điều 110 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 thì:

“...2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vì vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.”

Theo đó, đề nghị Cục Hải quan tỉnh, thành phố thực hiện quy định tại khoản 35 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13, không thực hiện nội dung hướng dẫn tại điểm 3 công văn số 17428/BTC-TCHQ ngày 22/12/2011 của Bộ Tài chính kể từ ngày Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 có hiệu lực thi hành (1/7/2013).

Bộ Tài chính thông báo để Cục Hải quan tỉnh, thành phố được biết và thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng Bộ Tài chính (để b/c);
- Tổng cục Thuế, Vụ CST, Vụ PC;
- Lưu: VT,TCHQ (46).

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Đỗ Hoàng Anh Tuấn

 

Điều 1.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế:
...

35. Điều 110 được sửa đổi, bổ sung nhu sau:

“Điều 110. Thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế

1. Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước; kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.”

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 110. Thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế
...

2. Đối với hành vi vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi chậm nộp tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

*Điều này được sửa đổi bởi Khoản 35 Điều 1 Luật quản lý thuế sửa đổi 2012

35. Điều 110 được sửa đổi, bổ sung nhu sau:

“Điều 110. Thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế

1. Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước; kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.”*

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 110. Thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế

1. Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

2. Đối với hành vi vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi chậm nộp tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận vào ngân sách nhà nước.

*Điều này được sửa đổi bởi Khoản 35 Điều 1 Luật quản lý thuế sửa đổi 2012

35. Điều 110 được sửa đổi, bổ sung nhu sau:

“Điều 110. Thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế

1. Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước; kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.”*

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
3. Vướng mắc về xác định thời hiệu xử phạt hành vi chậm nộp tiền thuế:

3.1. Theo quy định của khoản 2 Điều 110 Luật quản lý thuế, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp tiền thuế là 05 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

Do đó nếu tính từ thời điểm người nộp thuế bắt đầu chậm nộp thuế đến ngày người nộp thuế thực hiện nộp thuế mà đã quá thời hạn 5 năm thì việc xử phạt chậm nộp thuế được thực hiện như sau:

+ Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bắt đầu chậm nộp đến ngày kết thúc chậm nộp, thì người nộp thuế phải nộp tiền phạt chậm nộp.

+ Ngoài thời hạn 05 năm kể từ ngày bắt đầu chậm nộp, người nộp thuế không phải nộp phạt chậm nộp.

VD: Người nộp thuế đăng ký tờ khai hải quan vào ngày 2/10/2007 nhập khẩu vải để may quần áo. Giả sử theo quy định, thời hạn nộp thuế của Tờ khai này là 30 ngày nhưng đến ngày 15/5/2013 người nộp thuế mới nộp hết tiền thuế vào ngân sách thì trong khoảng thời gian từ ngày 3/11/2007 đến hết ngày 3/11/2012 (tròn 05 năm tính từ ngày bắt đầu chậm nộp trở đi), người nộp thuế vẫn bị phạt chậm nộp. Khoảng thời gian từ ngày 4/11/2012 (ngày quá thời hạn 05 năm) đến ngày 15/5/2013 (ngày nộp thuế) người nộp thuế không bị phạt chậm nộp.

3.2. Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, thì: Người có thẩm quyền xử phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này.

Do đó, đề nghị cục Hải quan các tỉnh, thành phố xác định rõ nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm quá thời hiệu chưa xử lý và xác định trách nhiệm của các bên liên quan để xử lý tiền phạt chậm nộp theo đúng quy định tại điểm 3.1 và 3.2 nêu trên.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
3. Vướng mắc về xác định thời hiệu xử phạt hành vi chậm nộp tiền thuế:

3.1. Theo quy định của khoản 2 Điều 110 Luật quản lý thuế, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp tiền thuế là 05 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

Do đó nếu tính từ thời điểm người nộp thuế bắt đầu chậm nộp thuế đến ngày người nộp thuế thực hiện nộp thuế mà đã quá thời hạn 5 năm thì việc xử phạt chậm nộp thuế được thực hiện như sau:

+ Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bắt đầu chậm nộp đến ngày kết thúc chậm nộp, thì người nộp thuế phải nộp tiền phạt chậm nộp.

+ Ngoài thời hạn 05 năm kể từ ngày bắt đầu chậm nộp, người nộp thuế không phải nộp phạt chậm nộp.

VD: Người nộp thuế đăng ký tờ khai hải quan vào ngày 2/10/2007 nhập khẩu vải để may quần áo. Giả sử theo quy định, thời hạn nộp thuế của Tờ khai này là 30 ngày nhưng đến ngày 15/5/2013 người nộp thuế mới nộp hết tiền thuế vào ngân sách thì trong khoảng thời gian từ ngày 3/11/2007 đến hết ngày 3/11/2012 (tròn 05 năm tính từ ngày bắt đầu chậm nộp trở đi), người nộp thuế vẫn bị phạt chậm nộp. Khoảng thời gian từ ngày 4/11/2012 (ngày quá thời hạn 05 năm) đến ngày 15/5/2013 (ngày nộp thuế) người nộp thuế không bị phạt chậm nộp.

3.2. Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, thì: Người có thẩm quyền xử phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này.

Do đó, đề nghị cục Hải quan các tỉnh, thành phố xác định rõ nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm quá thời hiệu chưa xử lý và xác định trách nhiệm của các bên liên quan để xử lý tiền phạt chậm nộp theo đúng quy định tại điểm 3.1 và 3.2 nêu trên.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 1.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế:
...

35. Điều 110 được sửa đổi, bổ sung nhu sau:

“Điều 110. Thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế

1. Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước; kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.”

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Văn bản gốc
Lược Đồ
Liên quan nội dung
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 18615/BTC-TCHQ   Loại văn bản: Công văn
Nơi ban hành: Bộ Tài chính   Người ký: Đỗ Hoàng Anh Tuấn
Ngày ban hành: 22/12/2014   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật   Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Thuế, phí, lệ phí   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Công văn 18615/BTC-TCHQ

155

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
261232