• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Hiệp định thương mại


 

Công văn 474/TCT-HTQT năm 2019 về phân loại các khoản phí trong hợp đồng vay của công ty T.H.T do Tổng cục Thuế ban hành

Tải về Công văn 474/TCT-HTQT
Bản Tiếng Việt

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 474/TCT-HTQT
V/v: phân loại các khoản phí trong hợp đồng vay của công ty T.H.T

Hà Nội, ngày 13 tháng 02 năm 2019

 

Kính gửi: Cục Thuế TP. Hà Nội.

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 53155/CT-TTHT đề ngày 31/7/2018 của Cục Thuế TP. Hà Nội đề nghị hướng dẫn giải đáp vướng mắc về nghĩa vụ thuế đối với các khoản phí phát sinh từ hợp đồng tín dụng nước ngoài của Công ty TNHH phát triển T.H.T (sau đây gọi là Công ty). Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Điều 11 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Hàn Quốc quy định:

“Thuật ngữ ”lãi tiền cho vay“ dùng ở Điều này có nghĩa là thu nhập từ các khoản cho vay dưới bất kỳ dạng nào, có hay không được đảm bảo bằng thế chấp và có hoặc không có quyền được hưởng lợi tức của người đi vay, và đặc biệt là khoản thu nhập từ chứng khoán của Chính phủ và thu nhập từ trái phiếu hoặc trái phiếu thông thường, bao gồm cả tiền thưởng và giải thưởng đi liền với các chứng khoán, trái phiếu hoặc trái phiếu thông thường đó.”

Căn cứ quy định tại Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Hàn Quốc và thông tin, tài liệu do Công ty cung cấp, đối với các khoản phí mà Công ty đề nghị hướng dẫn, thì:

Phí thu xếp khoản vay và phí tham gia cấu thành trong lãi suất do Công ty TNHH phát triển T.H.T trả cho các bên cho vay theo Hợp đồng vay hợp vốn nước ngoài và liên quan trực tiếp đến số tiền vay nên được coi là thu nhập từ lãi tiền vay theo quy định tại Hiệp định.

Phí đại lý trả cho ngân hàng đại lý bên thứ ba cho các công việc hành chính giấy tờ mà ngân hàng đại lý thực hiện theo hợp đồng vay nên khoản phí này không liên quan trực tiếp đến số tiền vay và được coi là thu nhập từ kinh doanh.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế được biết và thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lãnh đạo Bộ (để báo cáo);
- Vụ CST, PC, TCNH, Cục QLN&TCĐN – BTC;
- Vụ CS, Vụ PC, Vụ DNL – TCT;
- Website TCT;
- Lưu: VT, HTQT (2b).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Đặng Ngọc Minh

 

Điều 11. Lãi tiền cho vay:

1. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.

2. Tuy nhiên, khoản tiền lãi này có thể bị đánh thuế ở Nước ký kết nơi phát sinh lãi và theo luật pháp của Nước đó, nhưng nếu đối tượng nhận là đối tượng thực hưởng khoản tiền lãi này thì mức thuế được tính sẽ không vượt quá 10 phần trăm của tổng số khoản lãi tiền cho vay.

3. Mặc dù đã có những quy định tại khoản 2, lãi tiền cho vay phát sinh tại một Nước ký kết và trả cho Chính phủ của Nước ký kết kia bao gồm cả các cơ quan chính quyền cơ sở và chính quyền địa phương tại Nước đó, trả cho Ngân hàng Trung ương của Nước ký kết kia hay bất kỳ tổ chức tài chính nào thực hiện các chức năng có tính chất Chính phủ hay trả cho bất kỳ đối tượng cư trú nào của Nước ký kết kia đối với khoản vay nợ do Chính phủ của Nước ký kết kia bao gồm cả các cơ quan chính quyền cơ sở tài chính nào thực hiện chức năng có tính chất Chính phủ, bảo lãnh hay gián tiếp tài trợ sẽ được miễn thuế tại Nước ký kết thứ nhất.

4. Theo nội dung khoản 3, thuật ngữ “ngân hàng trung ương và bất kỳ cơ sở tài chính thực hiện chức năng có tính chất Chính phủ ” có nghĩa là:

a. Trong trường hợp đối với Việt Nam:

(i) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

(ii) Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và cơ sở tài chính khác thực hiện các chức năng có tính chất Chính phủ như được quy định chi tiết và được thỏa thuận trong các công hàm trao đổi giữa các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết;

b. Trong trường hợp đối với Hàn Quốc:

(ii) Ngân hàng xuất-nhập-khẩu Hàn Quốc, Ngân hàng phát triển Hàn Quốc và cơ sở tài chính khác thực hiện các chức năng có tính chất Chính phủ như được quy định chi tiết và được thỏa thuận trong các công hàm trao đổi giữa các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết.

5. Thuật ngữ ”lãi tiền cho vay“ dùng ở Điều này có nghĩa là thu nhập từ các khoản cho vay dưới bất kỳ dạng nào, có hay không được đảm bảo bằng thế chấp và có hoặc không có quyền được hưởng lợi tức của người đi vay, và đặc biệt là khoản thu nhập từ chứng khoán của Chính phủ và thu nhập từ trái phiếu hoặc trái phiếu thông thường, bao gồm cả tiền thưởng và giải thưởng đi liền với các chứng khoán, trái phiếu hoặc trái phiếu thông thường đó.

6. Những quy định tại khoản 1, 2 sẽ không áp dụng nếu người thực hưởng lãi từ tiền cho vay là đối tượng cư trú tại một Nước ký kết, tiến hành hoạt động doanh nghiệp tại Nước ký kết kia nơi phát sinh các khoản lãi tiền vay, thông qua một cơ sở thường trú tại Nước kia hoặc thực hiện tại Nước kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định nằm tại Nước kia, và khoản nợ có các khoản tiền lãi được trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó. Trong trường hợp này, các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tuỳ từng trường hợp, sẽ được áp dụng.

7. Lãi tiền cho vay sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi người trả chính là Nhà nước đó, cơ quan chính quyền cơ sở, chính quyền địa phương, hoặc đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi đối tượng trả lãi có ở một Nước ký kết một cơ sở thường trú hay một cơ sở cố định liên quan đến các khoản nợ đã phát sinh các khoản lãi này, và khoản tiền lãi đó do cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó chịu thì dù đối tượng đó có là đối tượng cư trú của một Nước ký kết hay không, khoản tiền lãi này sẽ vẫn được coi là phát sinh ở Nước nơi cơ sở thường trú hay cơ sở cố định đó đóng.

8. Trường hợp do mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả lãi và đối tượng hưởng lãi hoặc giữa cả hai đối tượng trên và các đối tượng khác, khoản lãi từ tiền cho vay liên quan đến khoản nợ phải trả tiền lãi vượt quá khoản tiền được thỏa thuận giữa đối tượng đi vay và đối tượng thực hưởng khi không có mối quan hệ này, thì khi đó, các quy định của Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với các khoản tiền thanh toán khi không có mối quan hệ đặc biệt trên. Trong trường hợp này, phần thanh toán vượt sẽ bị đánh thuế theo các luật của từng Nước ký kết có xem xét thích đáng tới các quy định khác của Hiệp định này.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Lược Đồ
Liên quan nội dung
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 474/TCT-HTQT   Loại văn bản: Công văn
Nơi ban hành: Tổng cục Thuế   Người ký: Đặng Ngọc Minh
Ngày ban hành: 13/02/2019   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật   Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Thuế, phí, lệ phí, Doanh nghiệp, hợp tác xã   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Công văn 474/TCT-HTQT

156

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
407299