• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo


 

Công văn 5877/BTNMT-TCBHĐVN năm 2019 về tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ hoàn thành nhiệm vụ thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành

Tải về Công văn 5877/BTNMT-TCBHĐVN
Bản Tiếng Việt

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------

Số: 5877/BTNMT-TCBHĐVN
V/v tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ hoàn thành nhiệm vụ thiết lập HLBVBB

Hà Nội, ngày 08 tháng 11 năm 2019

 

Kính gửi: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển

Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo ngày 25 tháng 6 năm 2015, trong thời gian vừa qua, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển đã tổ chức phổ biến, tuyên truyền, vận động các tầng lớp Nhân dân và chỉ đạo sở, ban, ngành, các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện các quy định của pháp luật, trong đó có quy định về việc thiết lập Hành lang bảo vệ bờ biển (sau đây viết tắt là HLBVBB) nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo, bảo đảm khai thác, sử dụng bền vững các vùng đất ven biển, vùng biển ven bờ, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với nhiệm vụ tăng cường bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, bảo vệ quyền tiếp cận của người dân đối với biển.

Tính đến tháng 9 năm 2019, đã có 07/28 tỉnh, thành phố gồm: Hải Phòng, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bến Tre, Sóc Trăng đã phê duyệt Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB là cơ sở để thiết lập HLBVBB; tỉnh Bình Định đang thực hiện có hiệu quả công tác thiết lập HLBVBB được người dân ghi nhận, có 06/28 tỉnh, thành phố đang hoàn thiện Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB gồm: Nam Định, Quảng Nam, Bà Rịa - Vũng Tàu, Trà Vinh, Cà Mau, Kiên Giang; còn lại 15/28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển chưa thực hiện việc lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành liên quan về dự thảo Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 79 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong thời hạn 18 tháng kể từ thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành (từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2017), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập HLBVBB thuộc phạm vi quản lý; đến nay, nhiệm vụ thiết lập HLBVBB do địa phương chậm triển khai đã quá thời hạn 22 tháng. Nguyên nhân chủ yếu do công tác tuyên truyền, triển khai, thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo còn có mặt hạn chế, chưa sâu rộng; cơ sở thông tin, dữ liệu còn thiếu, thiết lập HLBVBB là nhiệm vụ mới khó khăn, phức tạp; một số cơ quan, đơn vị tư vấn chưa có kinh nghiệm; trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ còn hạn chế; việc bố trí nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ thiết lập HLBVBB còn thiếu, chưa kịp thời; công tác phối hợp chưa chặt chẽ nên việc tổ chức thực hiện còn lúng túng, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu.

Để triển khai, thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành 04 văn bản hướng dẫn, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thiết lập HLBVBB (Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01 tháng 9 năm 2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Công văn số 3753/BTNMT-TCBHĐVN ngày 26 tháng 7 năm 2017 về việc triển khai thực hiện Điều 79 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo về thiết lập HLBVBB; Công văn số 4227/BTNMT- TCBHĐVN ngày 08 tháng 8 năm 2018 và Công văn số 255/BTNMT- TCBHĐVN ngày 19 tháng 01 năm 2019 về việc phối hợp thực hiện trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường biển và hải đảo).

Việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về thiết lập HLBVBB có tính cấp bách để sớm khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý hiện nay đối với các vùng đất ven biển và vùng biển ven bờ được quy định trong Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Bộ Tài nguyên và Môi trường trân trọng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển tập trung chỉ đạo và thực hiện những nội dung cụ thể sau đây:

1. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các quy định của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến các tầng lớp Nhân dân, cán bộ, công chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

2. Bố trí nguồn lực cần thiết để triển khai thực hiện các nhiệm vụ đã được quy định trong Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong đó có nhiệm vụ thiết lập và quản lý HLBVBB.

3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo, tổ chức thiết lập, công bố và quản lý HLBVBB theo quy định của pháp luật, cụ thể:

a) Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển chưa công bố Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB

- Hỗ trợ các nguồn lực cần thiết về kinh phí, con người và chỉ đạo các sở, ban, ngành sớm hoàn thiện Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB, lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan theo quy định của pháp luật, hoàn thiện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt và công bố trước ngày 31 tháng 12 năm 2019.

- Thực hiện nghiêm quy định tại Điều 79 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, có kế hoạch cụ thể, tiến hành rà soát lại toàn bộ các dự án ven biển trên địa bàn tỉnh để điều chỉnh, thu hồi theo quy định của pháp luật. Đặc biệt các dự án chậm triển khai ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, bảo vệ hệ sinh thái và quyền tiếp cận của người dân với biển theo quy định của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

- Rà soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện, các quy hoạch ngành được công bố trên địa bàn của tỉnh, các khu vực có hệ sinh thái cần bảo vệ, khu vực cần duy trì giá trị dịch vụ hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên, các khu vực bị sạt lở, có nguy cơ sạt lở gắn với yêu cầu giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và nhất là các khu vực ven bờ biển, bờ đảo để bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB tuân theo các nguyên tắc đã được quy định tại Khoản 2 Điều 23 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

b) Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển đã công bố Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB

- Xem xét rà soát lại Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB đã công bố, trường hợp có sự bất cập cần nghiên cứu điều chỉnh theo quy định của pháp luật.

- Khẩn trương hoàn thành việc phê duyệt ranh giới HLBVBB theo quy định tại các Điều 37, Điều 38, Điều 39 Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- PTTgCP Trịnh Đình Dũng (để b/c);
- Bộ trưởng Trần Hồng Hà (để b/c);
- Văn phòng Chính phủ;
- Các Bộ: Quốc phòng; Công an; Giao thông vận tải; Nông nghiệp và Phát triển; Văn hóa, Thể th
ao và Du lịch, Công Thương;
- Bộ TN&MT: các Thứ trưởng; các Vụ: PC, TĐKT&TT, KH-TC; Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ;
- Sở TN&MT các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển;
- Lưu: VT, TCBHĐVN Hn.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Trần Quý Kiên

 

Điều 79. Điều khoản chuyển tiếp
...

2. Trong thời hạn 18 tháng kể từ thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 79. Điều khoản chuyển tiếp

1. Kể từ thời điểm Luật này được công bố, giữ nguyên hiện trạng, không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100 m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau đây:

a) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa;

b) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư;

c) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

2. Trong thời hạn 18 tháng kể từ thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý.

3. Các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên của ngành, địa phương, quy hoạch phát triển ngành, địa phương được tiếp tục thực hiện cho đến khi được rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ đã được phê duyệt.

*Khoản này bị bãi bỏ bởi Khoản 12 Điều 11 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018

Điều 11. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
...
12. Bãi bỏ khoản 3 Điều 79.*

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 79. Điều khoản chuyển tiếp

1. Kể từ thời điểm Luật này được công bố, giữ nguyên hiện trạng, không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100 m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau đây:

a) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa;

b) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư;

c) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

2. Trong thời hạn 18 tháng kể từ thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý.

3. Các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên của ngành, địa phương, quy hoạch phát triển ngành, địa phương được tiếp tục thực hiện cho đến khi được rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ đã được phê duyệt.

*Khoản này bị bãi bỏ bởi Khoản 12 Điều 11 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018

Điều 11. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
...
12. Bãi bỏ khoản 3 Điều 79.*

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 79. Điều khoản chuyển tiếp

1. Kể từ thời điểm Luật này được công bố, giữ nguyên hiện trạng, không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100 m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau đây:

a) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa;

b) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư;

c) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

2. Trong thời hạn 18 tháng kể từ thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý.

3. Các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên của ngành, địa phương, quy hoạch phát triển ngành, địa phương được tiếp tục thực hiện cho đến khi được rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ đã được phê duyệt.

*Khoản này bị bãi bỏ bởi Khoản 12 Điều 11 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018

Điều 11. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
...
12. Bãi bỏ khoản 3 Điều 79.*

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 23. Hành lang bảo vệ bờ biển
...

2. Việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

a) Phải căn cứ vào yêu cầu, mục tiêu của việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Bảo đảm tính khoa học, khách quan; hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ và phát triển, có tính đến hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên ở vùng đất ven biển; bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa; bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương;

c) Phải phù hợp với quy định của pháp luật về đê điều, khu vực biên giới trên biển; bảo đảm quốc phòng, an ninh;

d) Phải xác định rõ chỉ giới hành lang bảo vệ bờ biển ở các khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển;

đ) Bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan; bảo đảm công khai, minh bạch, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan trong khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 37. Chiều rộng, ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển

1. Chiều rộng hành lang bảo vệ bờ biển được xác định trên các mặt cắt đặc trưng để bảo đảm yêu cầu, Mục tiêu thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển và phù hợp với Điều kiện thực tế của khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.

2. Chiều rộng hành lang bảo vệ bờ biển trên một mặt cắt đặc trưng được xác định là Khoảng cách lớn nhất tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm đến các đường:

a) Đường nối các Điểm có giá trị lớn nhất được tính toán nhằm bảo đảm yêu cầu, Mục tiêu thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển quy định tại Khoản 1 Điều 23 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;

b) Đường ranh giới ngoài của khu bảo vệ I của di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa;

c) Đường ranh giới về phía đất liền của hành lang bảo vệ đê biển theo quy định của pháp luật về đê Điều.

Trường hợp Khoảng cách lớn nhất tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm đến các đường quy định tại Điểm a, b và Điểm c Khoản này nhỏ hơn 100m thì chiều rộng hành lang bảo vệ bờ biển tại mặt cắt đó được xác định là 100m; nếu chiều rộng tự nhiên của khu vực thiết lập hành lang nhỏ hơn 100m thì chiều rộng hành lang bảo vệ bờ biển tại mặt cắt đó được xác định bằng chiều rộng tự nhiên của khu vực thiết lập hành lang.

Trường hợp Khoảng cách lớn nhất tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm đến các đường quy định tại Điểm a, b và Điểm c Khoản này lớn hơn chiều rộng tự nhiên của khu vực thiết lập hành lang thì chiều rộng hành lang bảo vệ bờ biển tại mặt cắt đó được xác định bằng chiều rộng tự nhiên của khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.

3. Ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển

Ranh giới ngoài của hành lang bảo vệ bờ biển là đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm; ranh giới trong của hành lang bảo vệ bờ biển nằm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo, là đường nối các Điểm có Khoảng cách được xác định để bảo đảm chiều rộng hành lang bảo vệ bờ biển theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

Điều 38. Lấy ý kiến về ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển, phê duyệt ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển

1. Ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển phải được lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan quy định tại Điều 34 Nghị định này để hoàn thiện trước khi trình phê duyệt. Nội dung tiếp thu, giải trình các ý kiến góp ý phải được công khai trên trang thông tin điện tử của Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh có biển.

2. Ủy ban nhân dân tỉnh có biển phê duyệt ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân tỉnh có biển phê duyệt ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển, hồ sơ trình phê duyệt bao gồm:

a) Tờ trình phê duyệt ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển;

b) Dự thảo Quyết định phê duyệt ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển;

c) Bản đồ thể hiện ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển kèm theo báo cáo thuyết minh;

d) Báo cáo nội dung tiếp thu, giải trình ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển;

đ) Văn bản góp ý, bảng tổng hợp ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan.

Điều 39. Công bố, cắm mốc giới hành lang bảo vệ bờ biển

1. Trong thời hạn không quá 20 ngày kể từ ngày phê duyệt ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển, Ủy ban nhân dân tỉnh có biển có trách nhiệm tổ chức công bố hành lang bảo vệ bờ biển trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bản đồ thể hiện ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có biển nơi có hành lang bảo vệ bờ biển và tại khu vực hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập.

2. Trong thời hạn không quá 60 ngày kể từ ngày ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển được phê duyệt, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cắm mốc giới hành lang bảo vệ bờ biển.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 5877/BTNMT-TCBHĐVN   Loại văn bản: Công văn
Nơi ban hành: Bộ Tài nguyên và Môi trường   Người ký: Trần Quý Kiên
Ngày ban hành: 08/11/2019   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật   Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Tài nguyên, Môi trường   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Công văn 5877/BTNMT-TCBHĐVN

25

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
433993