Quy định về ưu đãi thuế đối với hoạt động khoa học và công nghệ

Quy định về ưu đãi thuế đối với hoạt động khoa học và công nghệ
Nguyễn Trinh

Luật Khoa học và Công nghệ 2013 được ban hành ngày 18/6/2013. Để khuyến khích, phát huy vai trò then chốt và động lực của khoa học và công nghệ, nhà nước đã quy định một số chính sách ưu đãi đối với hoạt động KHCN, tiêu biểu là chính sách ưu đãi về thuế.

 

Cụ thể, theo quy định tại Điều 64 Luật Khoa học và Công nghệ 2013, các trường hợp được hưởng chính sách ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật về thuế bao gồm:

Một là, thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Hai là, thu nhập từ sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại Việt Nam; sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm.

Ba là, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và một số hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao.

Bốn là, dịch vụ khoa học và công nghệ.

Năm là, máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ.

Sáu là, kinh phí tài trợ của tổ chức, cá nhân cho hoạt động nghiên cứu khoa học; khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động nghiên cứu khoa học.

Bảy là, chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thuộc địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Tám là, các trường hợp khác được quy định tại các luật về thuế.

Luật Khoa học và Công nghệ 2013 chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2014.

Gởi câu hỏi

832

Văn bản liên quan