Tổ chức, cá nhân khai thác dầu khí phải nộp thuế tài nguyên

Đây là nội dung được quy định tại Luật Dầu khí 1993 và tiếp tục được ghi nhận và sửa đổi tại Luật dầu khí sửa đổi bổ sung 2000.

Cụ thể, theo quy định tại Khoản 13 Luật Dầu khí sửa đổi 2000, thuế tài nguyên được tính theo sản lượng khai thác thực tế trong thời kỳ nộp thuế cho từng hợp đồng dầu khí.

  • Thuế suất thuế tài nguyên đối với dầu thô được quy định từ bốn phần trăm (4%) đến hai mươi lăm phần trăm (25%);
  • Thuế suất thuế tài nguyên đối với khí thiên nhiên được quy định từ không phần trăm (0%) đến mười phần trăm (10%).

Chính phủ Việt Nam quy định thuế suất cụ thể trong phạm vi khung thuế suất theo quy định tại Điều này tuỳ thuộc vào các điều kiện địa lý, kinh tế kỹ thuật của mỏ và mức sản lượng dầu thô hoặc khí thiên nhiên.

Bên cạnh đó, Luật Dầu khí sửa đổi 2000 cũng sửa đổi, bổ sung các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức, cá nhân tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí. Cụ thể:

  • Tổ chức, cá nhân tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất năm mươi phần trăm (50%);
  • Tổ chức, cá nhân tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại các dự án khuyến khích đầu tư dầu khí phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất ba mươi hai phần trăm (32%);
  • Tổ chức, cá nhân tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí có thể được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian tối đa là 02 năm và được giảm năm mươi phần trăm (50%) thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian tối đa là 02 năm tiếp theo. Việc miễn hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp do Chính phủ Việt Nam quy định.

Lợi nhuận tái đầu tư không thuộc đối tượng hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp.

Xem thêm: Luật Dầu khí sửa đổi 2000 có hiệu lực ngày 01/7/2000. 

Gởi câu hỏi

98

Văn bản liên quan