Những điểm mới của Luật Tổ chức Quốc hội 2014

Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 gồm 7 chương, 102 điều được Quốc hội thông qua ngày Ngày 20/11/2014 sửa đổi nhiều nội dung của những điều luật cũ cũng như quy định chi tiết về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cách thức, nội dung hoạt động của Quốc hội...

Những điểm mới của Luật Tổ chức Quốc hội 2014

Những sửa đổi, bổ sung này nằm dàn trải khắp các Chương, trong đó, các điểm mới tập trung nhiều nhất ở Chương I- Chương về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Quy định cụ thể của Luật tổ chức Quốc hội 2014 như sau:

Chức năng của Quốc hội

Về chức năng của Quốc hội, trên cơ sở Điều 69 của Hiến pháp, Luật sửa đổi đã thiết kế nội dung về chức năng của Quốc hội theo hướng ngắn gọn hơn, cụ thể là: Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Giám sát tối cao

Về giám sát tối cao, so với quy định của luật hiện hành, Quốc hội không còn tổ chức thực hiện giám sát tối cao “đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” mà chỉ tiến hành “giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”.

Đồng thời, các đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội chỉ bao gồm Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu các cơ quan này và các thành viên của Chính phủ. Đây đều là những đối tượng thuộc các cơ quan cao nhất trong tổ chức bộ máy nhà nước.

Nhiệm kỳ của Quốc hội

Về nhiệm kỳ của Quốc hội, trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Luật sửa đổi đã bổ sung thêm một số nội dung về nhiệm kỳ của Quốc hội.

Bên cạnh việc tiếp tục quy định về khung thời gian cho mỗi nhiệm kỳ Quốc hội là năm năm, Luật sửa đổi ấn định 60 ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong.

Luật sửa đổi cũng xác định rõ khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành hoặc theo đề nghị của UBTVQH, Quốc hội sẽ quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ.

Thời gian kéo dài hay rút ngắn nhiệm kỳ của Quốc hội không được quá 12 tháng, trừ trường hợp có chiến tranh.

Lấy phiếu tín nhiệm

Về việc lấy phiếu tín nhiệm, Luật sửa đổi xây dựng quy định mới về việc lấy phiếu tín nhiệm. Cụ thể, Luật sửa đổi đã thiết kế quy định về lấy phiếu tín nhiệm với tính chất là một phương thức tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Đồng thời, đây cũng được xem là một bước chuẩn bị cho việc thực hiện quyền bỏ phiếu tín nhiệm đã được quy định trong Hiến pháp.   

Bỏ phiếu tín nhiệm

Bên cạnh quy định về lấy phiếu tín nhiệm, Luật sửa đổi bổ sung quy định về việc bỏ phiếu tín nhiệm trên cơ sở thể chế hóa quy định của Hiến pháp và luật hóa một số nội dung trong Nghị quyết 35/2012/QH13 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn và có kế thừa quy định tại Điều 88 của Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành.

Theo đó, Luật sửa đổi quy định Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn trong các trường hợp do UBTVQH đề nghị; hoặc, có ý kiến bằng văn bản của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội; hoặc, có kiến nghị của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội.

Bên cạnh đó, Luật sửa đổi bổ sung thêm trường hợp Quốc hội sẽ bỏ phiếu tín nhiệm khi người được lấy phiếu tín nhiệm khi có từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá tín nhiệm thấp.

Đồng thời cũng quy định rõ hậu quả pháp lý đối với người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm khi có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm.

Trưng cầu ý dân

Quy định về trưng cầu ý dân cũng đã cụ thể hóa khoản 15 Điều 70 của Hiến pháp về các trường hợp Quốc hội quyết định việc trưng cầu dân ý.

Theo đó, Luật Tổ chức Quốc hội cũng đã xác định rõ các chủ thể có quyền đề nghị Quốc hội trưng cầu dân ý là UBTVQH, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội; đồng thời khẳng định kết quả trưng cầu dân ý có giá trị quyết định đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu dân ý. Cách thức, trình tự, thủ tục trưng cầu ý dân sẽ do Luật trưng cầu ý dân quy định

Quyền tham dự kỳ họp của HĐND

Về quyền tham dự kỳ họp của HĐND, Luật sửa đổi bổ sung thêm quyền của đại biểu Quốc hội tham dự kỳ họp HĐND nơi đại biểu cư trú hoặc nơi làm việc khi HĐND bàn những vấn đề mà đại biểu quan tâm.

Luật cũng bổ sung các quy định nhằm xác định cụ thể vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội chuyên trách, số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội.

Như vậy, ngay từ Chương I, Luật Tổ chức Quốc hội 2014 đã sửa đổi bổ sung thêm nhiều quy định tạo cơ sở pháp lý quan trọng để đại biểu Quốc hội thực hiện vai trò trung tâm trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội

Chương II của Luật quy định về Đại biểu Quốc hội. Chương này cũng có rất nhiều điểm mới về việc tiếp xúc cử tri, quyền chất vấn, kiến nghị, tham dự kì họp HĐND.

Về nội dung, bên cạnh việc kế thừa các quy định của luật hiện hành về các quyền trình dự án luật, pháp lệnh và kiến nghị về luật, pháp lệnh, quyền của đại biểu khi phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội..., Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi bổ sung thêm một số nội dung về trách nhiệm với cử tri, quy định đại biểu Quốc hội có thể tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu quan tâm nhằm mục đích tạo thêm cơ hội để đại biểu Quốc hội lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của cử tri, đồng thời thu hút được sự quan tâm của cử tri đối với các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội.

Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội

Về quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội đã sửa đổi bổ sung:

- Quyền chất vấn của đại biểu đối với Tổng Kiểm toán nhà nước để phù hợp với Hiến pháp (sửa đổi);

- Quy định về việc trả lời chất vấn theo hướng UBTVQH kiến nghị Quốc hội xem xét, quyết định cho phép người bị chất vấn trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của Quốc hội, phiên họp của UBTVQH hoặc trả lời trực tiếp bằng văn bản đến đại biểu Quốc hội đã chất vấn.

- Trường hợp đại biểu Quốc hội chưa đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền tiếp tục chất vấn lại tại phiên họp của Quốc hội hoặc UBTVQH hoặc gửi chất vấn đến người bị chất vấn.

Quyền kiến nghị của đại biểu Quốc hội

Về quyền kiến nghị của đại biểu Quốc hội, so với luật hiện hành, Luật sửa đổi có quy định riêng về quyền của đại biểu Quốc hội trong việc kiến nghị Quốc hội về các vấn đề:

- Sửa đổi Hiến pháp;

- Trưng cầu ý dân;

- Thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội;

- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

- Tổ chức phiên họp bất thường

- Phiên họp kín của Quốc hội và kiến nghị những vấn đề khác mà đại biểu Quốc hội thấy cần thiết.

Ngoài ra, đại biểu Quốc hội cũng có quyền kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng biện pháp cần thiết để thực hiện Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Quyền tham dự kì họp của HĐND

Về quyền tham dự kỳ họp của HĐND, Luật sửa đổi bổ sung thêm quyền của đại biểu Quốc hội tham dự kỳ họp HĐND nơi đại biểu cư trú hoặc nơi làm việc khi HĐND bàn những vấn đề mà đại biểu quan tâm.

Cơ cấu, nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban Quốc hội

Tại Chương IV- Hội đồng dân tộc và các Ủy ban Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội 2014 cũng có nhiều sửa đổi bổ sung về cơ cấu, nhiệm vụ quyền hạn của 2 tổ chức này.

Thứ nhất, về cơ cấu của tổ chức của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Luật quy định Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng dân tộc và Chủ nhiệm Ủy ban.

Các chức danh Phó Chủ tịch và Ủy viên Hội đồng dân tộc, Phó Chủ nhiệm và Ủy viên Ủy ban sẽ do UBTVQH phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội.

Thứ hai, Luật Tổ chức Quốc hội 2014 cũng đã phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội so với quy định trước đây, cụ thể:

- Bổ sung quyền trình dự án luật, dự án pháp lệnh về lĩnh vực mà Hội đồng dân tộc, Ủy ban phụ trách;

- Bổ sung trách nhiệm của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong việc bảo vệ Hiến pháp nhằm cụ thể hóa Điều 119 của Hiến pháp.

- Bổ sung quyền yêu cầu báo cáo, cung cấp tài liệu, cử thành viên xem xét, xác minh về vấn đề mà Hội đồng dân tộc, Ủy ban quan tâm và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan đối với những yêu cầu của Hội đồng, Ủy ban cho phù hợp với Hiến pháp

- Bổ sung, làm rõ hoạt động báo cáo, giải trình tại phiên họp Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội về những vấn đề cần thiết thuộc lĩnh vực Hội đồng, Ủy ban phụ trách

- Bổ sung thẩm quyền của Hội đồng dân tộc trong việc thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân tộc trong các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, UBTVQH

- Bổ sung trách nhiệm của Ủy ban pháp luật trong việc giúp UBTVQH dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật

- Bổ sung trách nhiệm của Ủy ban tư pháp trong việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh về phòng, chống tham nhũng

- Tiếp tục xác định nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng của Ủy ban kinh tế; đồng thời bổ sung thẩm quyền cho Ủy ban này trong việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh về lĩnh vực đất đai và chính sách cơ bản về tiền tệ quốc gia

- Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban tài chính, ngân sách trong việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh về kiểm toán nhà nước

- Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng trong việc thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực  tôn giáo, tín ngưỡng.

- Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban các vấn đề xã hội trong việc thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực an sinh xã hội, bình đẳng giới, thi đua, khen thưởng

Bổ sung quy định mới về chức danh Tổng thư ký

Tại chương IV về Tổng thư ký quốc hội, văn phòng quốc hội, các cơ quan thuộc UBTVQH và kinh phí hoạt động của quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 đã bổ sung quy định mới về chức danh Tổng thư ký.

Theo đó, Tổng thư ký Quốc hội do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm để tham mưu, phục vụ hoạt động của Quốc hội, UBTVQH, đại biểu Quốc hội. Tổng thư ký là đại biểu Quốc hội đồng thời giữ vai trò là Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và UBTVQH về hoạt động của Văn phòng Quốc hội.

Luật Tổ chức Quốc hội 2014 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. 

Nguồn: ThuKyLuat.vn

1,763

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan