Giao kết “Hợp đồng tình yêu” là hợp pháp hay trái luật?

Tôi có giao kết "hợp đồng tình yêu" với một người đàn ông trong 5 năm và điều khoản có nêu về trách nhiệm chăm sóc tinh thần và vật chất giữa hai bên. Hợp đồng được trao đổi qua email, không ký hay chứng thực. Vậy cho tôi hỏi, việc giao kết “Hợp đồng tình yêu” là hợp pháp hay trái luật?

Hợp đồng tình yêu

Giao kết “Hợp đồng tình yêu” là hợp pháp hay trái luật? (Ảnh minh họa)

Về vấn đề này, ban biên tập THƯ KÝ LUẬT xin tư vấn như sau:

Hiện nay, pháp luật không quy định rõ về loại “hợp đồng tình yêu” hay “hợp đồng tình ái”, về nguyên tắc “hợp đồng tình yêu”  được lập thành văn bản thỏa thuận những quyền, lợi ích, trách nhiệm của 02 bên trong mối quan hệ tình cảm. Do đó, “hợp đồng tình yêu” được hiểu là giao dịch dân sự.

Theo đó, tại Điều 116 Bộ Luật dân sự 2015 quy định giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Bên cạnh đó, giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể và có hiệu lực khi có đủ 03 điều kiện sau:

  • Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

  • Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

  • Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Như vậy, đối với "hợp đồng tình yêu" pháp luật Việt Nam không có quy định cấm và vẫn áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, "Hợp đồng tình yêu" có giá trị pháp lý hay không phụ thuộc vào nội dung và hình thức của hợp đồng, nếu trong điều khoản của Hợp đồng tình yêu mang tính chất trao đổi lợi ích vật chất để quan hệ tình dục (giao cấu) thì đó có thể được xem là hành vi mua bán dâm.

Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 4 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003Nghị định 167/2013 NĐ-CP  thì hành vi mua dâm, bán dâm là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Tùy từng trường hợp người mua dâm, bán dâm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi này.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự 2015, giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Vì vậy, với những phân tích trên, có thể thấy "hợp đồng tình yêu" mà bạn đã giao kết được hiểu là giao dịch dân sự và được giao kết dựa theo sự thỏa thuận của hai bên. Tuy nhiên, nếu điều khoản trong "hợp đồng tình yêu"  của bạn cho thấy các bên thỏa thuận về việc trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác để tiến hành quan hệ tình dục (giao cấu) thì không được pháp luật công nhận và được xem hành vi vi phạm pháp luật, trong trường hợp đó, bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

Ty Na

1,886

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan