“Vợ chồng” đồng tính có được nhận chung con nuôi không?

Hiện nay việc 01 cặp đôi đồng tính có con chung với nhau theo mặt y học là điều chưa thể. Vậy trong trường hợp nếu họ muốn nhận chung con nuôi thì liệu rằng pháp luật có cho phép hay không?

người đồng tính nhận con nuôi

“Vợ chồng” đồng tính có được nhận chung một con nuôi không? (Ảnh minh họa)

Hôn nhân đồng tính chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Theo đó, nam nữ kết hôn phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

  • Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

  • Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

  • Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

  • Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm: Kết hôn giả tạo; Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; Kết hôn với người đang có chồng, có vợ; Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời….

Với quy định tại điều luật này, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Do đó, các cặp đôi đồng tính hiện nay vẫn chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận là một cuộc hôn nhân hợp pháp. Các cặp đôi đồng tính hiện nay chỉ có sống chung với nhau và không có mối quan hệ ràng buộc mang tính pháp lý về quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, cấp dưỡng và tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân,…

Cặp đôi đồng tính có được nhận chung một con nuôi không?

Mặc dù không được pháp luật Việt Nam công nhận nhưng hiện nay, có khá nhiều cặp đôi đồng tính đang sống chung với nhau như vợ chồng. Và không ít trong số đó rất mong muốn có được một người con nuôi.

Theo quy định tại Luật Nuôi con nuôi 2010, việc nhận con nuôi sẽ xác lập quan hệ cha, mẹ, con một cách lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người con, đảm bảo cho người con được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.

Việc nhận con nuôi phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cả người nhận nuôi và người được nhận nuôi, dựa trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái đạo đức, xã hội.

Theo đó, Điều 8 Luật này nêu rõ:

Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

Vì cặp đôi đồng tính hiện vẫn chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận là một cặp vợ chồng hợp pháp nên không thỏa mãn điều kiện để cùng đứng ra nhận con nuôi. Nhưng một trong hai người có thể làm thủ tục nhận con nuôi trong trường hợp là một người độc thân.

Khi đó, người đăng ký nhận con nuôi phải đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010:

  • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

  • Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

  • Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

  • Có tư cách đạo đức tốt;

  • Không thuộc các trường hợp bị cấm nhận con nuôi: Đang bị hạn chế quyền của cha, mẹ với con chưa thành niên; Đang chấp hành hình phạt tù; Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự người khác, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em,…

Như vậy, Việt Nam chưa thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính nên các cặp đôi đồng tính hiện chưa thể nhận chung con nuôi được. Tuy nhiên một trong hai người này nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định thì vẫn có thể nhận con nuôi trên danh nghĩa một người độc thân.

Căn cứ pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Luật Nuôi con nuôi 2010.

Ngọc Tài

122

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan