Đăng ký khai sinh cho trẻ mồ côi

Trẻ em là một bộ phận của xã hội, là đối tượng được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Hiến pháp 2013 quy định Nhà nước, xã hội và gia đình phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trẻ em.

Theo thống kê Việt Nam hiện nay có khoảng trên 150.000 trẻ em mồ côi nhưng chỉ có gần 12.000 em được nuôi dưỡng tại các trung tâm bảo trợ xã hội tỉ lệ này khá thấp, chỉ chiếm chưa đến 10%. Đây cũng là một vấn nạn của xã hội, không chỉ bản thân các em bất hạnh mà còn là gánh nặng của xã hội, cộng đồng. Vì vậy, việc chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em cần được chú trọng, trong đó việc đăng ký khai sinh là điều cần thiết.

Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em mồ côi được quy định cụ thể tại Điều 14 Nghị định 123/2015/ NĐ-CP như sau:

“Điều 14. Đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi

1. Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo.

3. Hết thời hạn niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ để tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ. Cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.

Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.

Ngoài ra Nghị định 123/2015/NĐ-CP còn quy định việc đăng ký khai sinh cho trẻ khi chưa xác định được cha, mẹ như sau:

“Điều 15. Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ

1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.

2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

4. Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều này; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.

5. Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ”.”

Việc đăng ký khai sinh là vừa thể hiện những thông tin cơ bản của một cá nhân, vừa thể hiện quyền con người, quyền công dân trong xã hội.

Gởi câu hỏi

3,175

Văn bản liên quan