Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hiện các chức năng hiến định

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hiện các chức năng hiến định
Nguyễn Trinh

Theo quy định của pháp luật, hai chức năng cơ bản của VKSND là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Vậy khi thực hiện những chức năng này, VKSND có những nhiệm vụ, quyền hạn gì để đảm bảo hiệu quả công tác?

 

1. Nhiệm vụ, quyền hạn khi thựuc hành quyền công tố

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật Tổ chức VKSND 2014, khi thực hành quyền công tố, VKSND có những quyền hạn, nhiệm vụ sau:

  • Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do BLTTHS quy định;
  • Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của BLTTHS;
  • Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;

  • Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;
  • Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;
  • Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;
  • Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;
  • Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa;
  • Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của BLTTHS.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp

Bên cạnh việc quy định quyền hạn và nhiệm vụ của VKSND khi thực hành quyền công tố, pháp luật cũng quy định, khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

  • Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho VKSND; cung cấp hồ sơ, tài liệu để VKSNDkiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp;
  • Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp;
  • Xử lý vi phạm; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm;
  • Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp;
  • Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền;
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.

Đây là nội dung quy định tại Khỏan 3 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND 2014.

Gởi câu hỏi

187

Văn bản liên quan