Phiếu tín nhiệm: Các quy định liên quan

Luật Tổ chức Quốc hội 2014 được ban hành ngày 20/11/2014 và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2016. Một trong những nội dung tiêu biểu được quy định tại văn bản này là quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội.

 

Cụ thể, theo quy định tại Điều 12 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây:

  • Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước;
  • Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội;
  • Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ;
  • Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.

Thời hạn, thời điểm, trình tự lấy phiếu tín nhiệm đối với người được Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm do Quốc hội quy định.

Việc bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội được quy định tại Điều 13 Luật Tổ chức Quốc hội. Theo đó, Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn trong các trường hợp sau đây:

  • Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị;
  • Có kiến nghị của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội;
  • Có kiến nghị của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội;
  • Người được lấy phiếu tín nhiệm theo quy định tại Điều 12 của Luật Tổ chức Quốc hội 2014 mà có từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá tín nhiệm thấp.

Người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm có thể xin từ chức. Trường hợp không từ chức thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chức vụ đó quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 8 và Điều 9 của Luật Tổ chức Quốc hội 2014 có trách nhiệm trình Quốc hội xem xét, quyết định việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm người không được Quốc hội tín nhiệm.

Gởi câu hỏi

159

Văn bản liên quan