Thẩm quyền quyết định đối với sĩ quan theo luật hiện hành

Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 2014 được ban hành ngày 27/11/2014 đã sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 1999. Đơn cử là nội dung sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền quyết định đối với sĩ quan.

Cụ thể, theo Khoản 5 Điều 1 Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 2014 sửa đổi, bổ sung Điều 25 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 1999, thẩm quyền quyết định đối với sĩ quan được quy định như sau:

- Thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, phong, thăng, giáng, tước quân hàm đối với sĩ quan:

  • Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, Chuẩn Đô đốc, Phó Đô đốc, Đô đốc Hải quân;
  • Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng; Phó Tổng Tham mưu trưởng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Giám đốc, Chính ủy Học viện Quốc phòng; Chủ nhiệm Tổng cục, Tổng cục trưởng, Chính ủy Tổng cục; Tư lệnh, Chính ủy Quân khu; Tư lệnh, Chính ủy Quân chủng; Tư lệnh, Chính ủy Bộ đội Biên phòng; Tư lệnh, Chính ủy Cảnh sát biển Việt Nam; Trưởng Ban Cơ yếu Chính phủ và các chức vụ khác theo quy định của cấp có thẩm quyền;
  • Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức vụ và phong, thăng, giáng, tước các cấp bậc quân hàm còn lại và nâng lương sĩ quan;
  • Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức vụ thuộc ngành Kiểm sát, Toà án, Thi hành án trong quân đội được thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Cấp có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm đến chức vụ nào thì có quyền miễn nhiệm, cách chức, giáng chức, quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ, điều động, biệt phái, giao chức vụ thấp hơn, cho thôi phục vụ tại ngũ, chuyển ngạch và giải ngạch sĩ quan dự bị đến chức vụ đó.

Xem thêm các nội dung sửa đổi, bổ sung tại: Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 2014 có hiệu lực ngày 01/7/2015. 

Gởi câu hỏi

828

Văn bản liên quan