Thẩm quyền xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt

Luật quản lý thuế sửa đổi 2012 được ban hành ngày 20/11/2012. Luật này đã sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Luật quản lý thuế 2006. Đáng chú ý là nội dung sửa đổi về thẩm quyền xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.

Cụ thể, theo Khoản 22 Điều 1 Luật quản lý thuế sửa đổi 2012 sửa đổi, bổ sung Điều 67 Luật quản lý thuế 2006, thẩm quyền xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt được quy định như sau: 

- Đối với người nộp thuế là doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản quy định tại khoản 1 Điều 65, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 65, hộ gia đình quy định tại khoản 3 Điều 65 Luật quản lý thuế 2006, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.

- Đối với người nộp thuế không thuộc các trường hợp trên thì thẩm quyền xóa nợ được quy định như sau:

  • Thủ tướng Chính phủ xóa nợ đối với trường hợp người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt từ mười tỷ đồng trở lên;
  • Bộ trường Bộ Tài chính xóa nợ đối với trường hợp người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt từ năm tỷ đồng đến dưới mười tỷ đồng;
  • Tổng cục trưởng Tổng cục thuế, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan xóa nợ đối với trường hợp người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt dưới năm tỷ đồng.

- Chính phủ báo cáo Quốc hội số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã được xóa hằng năm khi trình Quốc hội phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.

- Chính phủ quy định việc tổ chức thực hiện xóa nợ.

Xem thêm tại: Luật quản lý thuế sửa đổi 2012 có hiệu lực ngày 01/7/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế 2006

Gởi câu hỏi

183

Văn bản liên quan