Cách tính trợ cấp thôi việc mới nhất năm 2020

Trợ cấp thôi việc là khoản tiền NSDLĐ trả cho NLĐ sau khi nghỉ việc như một khoản hỗ trợ cho NLĐ đã có thời gian cống hiến cho công ty. Dưới đây là cách tính trợ cấp thôi việc mới nhất năm 2020.

trợ cấp thôi việc

Cách tính trợ cấp thôi việc mới nhất năm 2020 (Ảnh minh họa)

Cách tính trợ cấp thôi việc

Công thức tính trợ cấp thôi việc: 

trợ cấp thôi việc

Trong đó:

Về tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc:

Theo khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động 2012, Điều 8 Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH quy định tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi NLĐ thôi việc, cụ thể:

  • Mức lương, ghi mức lương tính theo thời gian của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do NSDLĐ xây dựng theo quy định của pháp luật lao động mà hai bên đã thỏa thuận. Đối với NLĐ hưởng lương theo sản phẩm hoặc lương khoán thì ghi mức lương tính theo thời gian để xác định đơn giá sản phẩm hoặc lương khoán.

  • Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ.

  • Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương.

Về thời gian để tính trợ cấp thôi việc:

Theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2012, khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP quy định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó (nếu có). Trong đó:

  • Thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ bao gồm: thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ theo hợp đồng lao động; thời gian được NSDLĐ cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được NSDLĐ trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; thời gian nghỉ hàng tuần, nghỉ việc hưởng nguyên lương; thời gian nghỉ việc để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được NSDLĐ trả lương; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của NLĐ; thời gian bị tạm đình chỉ công việc.

  • Thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian NSDLĐ đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, thời gian được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, thời gian NSDLĐ đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của NLĐ một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động, bảo hiểm thất nghiệp;

  • Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của NLĐ được tính theo năm (đủ 12 tháng); trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Ví dụ: Chị Lê Thanh Mai làm việc liên tục theo ba hợp đồng lao động tại công ty B:

- Hợp đồng lao động 01 có thời hạn 12 tháng: Từ 01/01/2007 – 31/12/2007;

- Hợp đồng lao động 02 có thời hạn 36 tháng: Từ 01/01/2008 – 31/12/2010;

- Hợp đồng lao động 03 không xác định thời hạn: Từ 01/01/2011 – 31/12/2018.

Sau đó, chị Mai đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Chị Mai được NSDLĐ đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục từ ngày 01/01/2012 – 31/12/2018 (07 năm). Tiền lương bình quân trước khi chị Mai chấm dứt hợp đồng lao động 03 là 5.500.000 đồng/tháng.

Vậy trợ cấp thôi việc của chị Mai được tính như sau:

- Vì hợp đồng lao động 03 (hợp đồng lao động không xác định thời hạn) chị Mai đơn phương chấm dứt trái pháp luật, nên thời gian chị Mai làm việc theo hợp đồng lao động 03 (08 năm) không được tính hưởng trợ cấp thôi việc. Thời gian làm việc để tính hưởng trợ cấp thôi việc đối với 02 hợp đồng trước là: 01 năm + 03 năm = 04 năm (từ 01/01/2007 – 31/12/2010)

- Tiền lương tính trợ cấp thôi việc là: 5.500.000 đồng

- Vậy trợ cấp thôi việc chị Mai nhận được là: 04 năm x 5.500.000 đồng/tháng x 1/2 = 11.000.000 đồng.

Ngoài ra, NLĐ cần lưu ý điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc cụ thể như sau:

Theo khoản 1 Điều 48 Bộ luật lao động 2012 quy định khi hợp đồng lao động chấm dứt một trong các trường hợp sau thì NSDLĐ có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ:

  • Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này;

  • Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

  • Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động;

  • NLĐ bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án;

  • NLĐ chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết;

  • NSDLĐ là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; NSDLĐ không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

  • NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đúng luật;

  • NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đúng luật; NSDLĐ cho NLĐ thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Lưu ý: Mời Quý khách hàng xem thêm 04 trường hợp nghỉ việc không được trợ cấp thôi việc từ 01/01/2021.

Lê Vy

1,401

Gởi câu hỏi