Nghỉ việc ngang, người lao động có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?

Bảo hiểm thất nghiệp là một loại BHXH nhằm hỗ trợ người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp, trong khoảng thời gian chưa tìm được việc làm trên cơ sở việc người lao động đã đóng vào Qũy Bảo hiểm thất nghiệp.

trợ cấp thất nghiệp

Nghỉ việc ngang, người lao động có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không? (Ảnh minh họa)

“Nghỉ việc ngang” là cụm từ thường được sử dụng trên thực tế, cụm từ này được luật hóa với cách gọi theo thuật ngữ pháp lý là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Vậy, trường hợp nào được xem là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật?

Theo quy định của Bộ Luật lao động 2012, người lao động có quyền đơn phương chấm hợp đồng lao động với doanh nghiệp khi đáp ứng đồng thời 02 điều kiện: (1) có lý do và (2) phải báo trước, cụ thể:

Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng:

- Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp:

  • Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

  • Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

  • Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

  • Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

- Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp:

  • Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

  • Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước.

- Căn cứ vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định đối với trường hợp: Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn:

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp lao động nữ mang thai theo quy định tại Điều 156 Bộ Luật lao động 2012 thì thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

Tuy nhiên, từ 2021 – thời điểm Bộ Luật lao động 2019 chính thức có hiệu lực thì người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do mà chỉ cần báo trước cho người sử dụng lao động theo thời hạn như sau:

  • Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

  • Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

  • Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

  • Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Thậm chí, người lao động không cần báo trước trong những trường hợp sau:

  • Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ Luật lao động 2019;

  • Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ Luật lao động 2019;

  • Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

  • Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

  • Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ Luật lao động 2019;

  • Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

  • Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ Luật lao động 2019 làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

=> Từ 2021, những trường hợp người lao động nghỉ việc không đáp ứng điều kiện về báo trước nêu trên sẽ được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật hay còn gọi là “nghỉ việc ngang”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật Việc làm 2013, một trong những điều kiện bắt buộc để người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp là chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

  • Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

  • Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.

Như vậy, trường hợp người lao động nghỉ việc ngang sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Theo đó, từ 2021, người lao động muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà đảm bảo được nhận đầy đủ các phúc lợi trong đó có trợ cấp thất nghiệp thì phải đáp ứng điều kiện về thời hạn báo trước cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Thùy Trâm

150

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan