Từ 2021, có tất cả 13 trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

Chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) là sự kiện pháp lý để kết thúc ràng buộc của các bên theo thỏa thuận đã giao kết. Việc kết thúc HĐLĐ có thể là do thỏa thuận của các bên hoặc một bên đơn phương chấm dứt. Theo đó, từ năm 2021 sẽ có tất cả 13 trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động.

Chấm dứt hợp đồng lao động

13 trường hợp được chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 01/01/2021 (Ảnh minh họa)

Theo đó, tại Điều 34 Bộ Luật lao động 2019, có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 quy định 13 trường hợp được chấm dứt HĐLĐ, bao gồm:

1. Hết thời hạn HĐLĐ.

Trừ trường hợp người sử dụng lao động phải gia hạn HĐLĐ đã giao kết đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hết hạn HĐLĐ theo quy định tại khoản 4 Điều 177 BLLĐ 2019.

2. Đã hoàn thành công việc theo HĐLĐ.

3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ.

4. Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong HĐLĐ theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

5. Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

6. Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Điều 35 của BLLĐ 2019

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Điều 36 của BLLĐ 2019.

11. Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 của BLLĐ 2019.

12. Giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Điều 156 của BLLĐ 2019.

13. Trường hợp thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong HĐLĐ mà thử việc không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc.

Như vậy, theo BLLĐ 2019 có tới 13 trường hợp được chấm dứt HĐLĐ, so với BLLĐ 2012 chỉ có 10 trường hợp. Theo đó, trường hợp chấm dứt HĐLĐ đối với người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu đã bị bãi bỏ. Bên cạnh đó, BLLĐ 2019 đã bổ sung thêm 04 trường hợp mới được chấm dứt HĐLĐ như sau:

  • Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

  • Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 của BLLĐ 2019.

  • Giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Điều 156 của BLLĐ 2019.

  • Trường hợp thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong HĐLĐ mà thử việc không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc.

Đây là một trong những điểm mới quan trọng của BLLĐ 2019 và sự thay đổi này là phù hợp với tình hình thực tế sử dụng lao động tại Việt Nam. Người lao động và người sử dụng lao động cần lưu ý những thay đổi này để điều chỉnh quan hệ lao động giữa các bên một các phù hợp.

Thùy Trâm

1,538

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan