Chính sách mới về BHYT từ ngày 01/7/2021

Bắt đầu từ ngày 01/7/2021, một số VBQPPL chính thức có hiệu lực dẫn đến nhiều thay đổi liên quan đến bảo hiểm y tế, cụ thể như sau:

Chính sách mới về BHYT từ ngày 01/7/2021

Chính sách mới về BHYT từ ngày 01/7/2021

Bổ sung đối tượng được cấp thẻ BHYT miễn phí

Nghị định 20/2021/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/7/2021) bổ sung nhiều đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng như sau:

- Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 đến 22 tuổi và người con đó đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con).

(Hiện hành, không quy định đối tượng thuộc diện hộ cận nghèo được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng).

- Người cao tuổi từ đủ 75 tuổi đến 80 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc diện quy định ở điểm a khoản này đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn;

- Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 3 và 6 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

- Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng như tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hàng tháng.

Theo đó, tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 20 nêu rõ đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế. Đồng thời, khoản 8 Điều 3 Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định: Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật về người cao tuổi, người khuyết tật, đối tượng bảo trợ xã hội thuộc nhóm đối tượng tham gia BHYT do NSNN đóng.

Như vậy, kể từ ngày 01/7/2021, sẽ có thêm nhiều đối tượng được cấp thẻ BHYT miễn phí

Bệnh viện công lập phải công khai giá thu dịch vụ KCB BHYT

Tại Điều 10 Thông tư 05/2021/TT-BYT của Bộ Y tế về việc quy định về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập đã quy định những việc mà bệnh viện công phải công khai đối với người bệnh và người đại diện hợp pháp của người bệnh, trong đó gồm:

Giá thu dịch vụ khám, chữa bệnh đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế, giá thu dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không theo yêu cầu đối với người bệnh không có thẻ bảo hiểm y tế; chế độ miễn, giảm giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; thực hiện chính sách bảo hiểm y tế; thanh toán giá và chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.

Về hình thức công khai

- Niêm yết công khai, chạy thông tin trên băng thông tin điện tử bằng các hình thức:

  • Các văn bản, bản vẽ, sơ đồ chỉ dẫn, dấu chỉ đường đến các khu vực, khoa, phòng và đơn vị trực thuộc trong đơn vị.
  • Các bản nội quy, quy định, giá các loại dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và giá các loại dịch vụ phục vụ người bệnh tại các địa điểm thuận lợi có nhiều người bệnh qua lại.

- Thông tin, truyền thông, tư vấn

Tổ chức thông tin, truyền thông, tư vấn về chế độ chính sách, những vấn đề có liên quan đến việc khám bệnh, chữa bệnh kể từ khi người bệnh mới đến phòng khám bệnh, phòng cấp cứu, buồng bệnh.

- Thông báo trực tiếp với người bệnh, người đại diện hợp pháp của người bệnh; tổ chức sinh hoạt hội đồng người bệnh của khoa, phòng và đơn vị.

Như vậy, bắt đầu từ ngày 01/7/2021, các bệnh viện công lập phải thực hiện công khai giá thu dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT bằng các hình thức theo quy định, chủ yếu để người bệnh dễ nhìn, dễ biết.

Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT theo định suất

Đây là nội dung tại Thông tư 04/2021/TT-BYT hướng dẫn thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT theo định suất, có hiệu lực từ ngày 01/7/2021.

Theo Thông tư này, quỹ định suất là số tiền được xác định trước, giao cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT để khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú cho người bệnh có thẻ BHYT trong phạm vi định suất, trong khoảng thời gian nhất định.

Theo đó, phạm vi định suất không bao gồm các chi phí khám bệnh, chữa bệnh của đối tượng, bệnh, nhóm bệnh sau đây:

+ Chi phí của các đối tượng có mã thẻ quân nhân (QN), cơ yếu (CY), công an (CA);

+ Chi phí vận chuyển người bệnh có thẻ BHYT;

+ Toàn bộ chi phí của lần khám bệnh, chữa bệnh BHYT có sử dụng dịch vụ kỹ thuật thận nhân tạo chu kỳ hoặc dịch vụ kỹ thuật lọc màng bụng hoặc dịch lọc màng bụng;

+ Toàn bộ chi phí của lần khám bệnh, chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc chống ung thư hoặc dịch vụ can thiệp điều trị bệnh ung thư đối với người bệnh được chẩn đoán bệnh ung thư gồm các mã từ C00 đến C97 và các mã từ D00 đến D09 thuộc bộ mã Phân loại bệnh quốc tế lần thứ X (sau đây viết tắt là ICD-10);

+ Toàn bộ chi phí của lần khám bệnh, chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc điều trị Hemophilia hoặc máu hoặc chế phẩm của máu đối với người bệnh được chẩn đoán bệnh Hemophilia gồm các mã D66, D67, D68 thuộc bộ mã ICD-10;

+ Toàn bộ chi phí của lần khám bệnh, chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc chống thải ghép đối với người bệnh ghép tạng;

+ Toàn bộ chi phí của lần khám bệnh, chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc điều trị viêm gan C của người bệnh bị bệnh viêm gan C;

+ Toàn bộ chi phí của lần khám bệnh, chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc kháng HIV hoặc dịch vụ xét nghiệm tải lượng HIV của người bệnh có thẻ BHYT được chẩn đoán bệnh HIV.

Sửa đổi chính sách BHYT đối với nhân thân của người có công với cách mạng

Đây là nội dung tại Pháp lệnh 02/2020/UBTVQH14 ưu đãi người có công với cách mạng, sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2021.

Theo Pháp lệnh này, đối tượng được hưởng BHYT là nhân thân của người có công với cách mạng từ 01/7/2021 có sự thay đổi, đơn cử như:

- Vợ hoặc chồng, con từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của người hoạt động cách mạng trước 01/01/1945 (không còn đối tượng là cha đẻ, mẹ đẻ so với quy định hiện hành).

- Vợ hoặc chồng, con từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (không còn đối tượng là cha đẻ, mẹ đẻ so với hiện hành).

- Vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác mà nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc cha đẻ, mẹ đẻ liệt sĩ khi còn sống hoặc vì hoạt động cách mạng mà không có điều kiện chăm sóc cha đẻ, mẹ đẻ liệt sĩ khi còn sống (hiện hành không có quy định này).

Bảo Ngọc

Gởi câu hỏi

2,383

Văn bản liên quan