Khi nào người điều khiển ô tô, xe máy mắc lỗi “xe không chính chủ”?

Quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm “xe không chính chủ” được nêu rõ tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB và đường sắt đang có hiệu lực thi hành. Vấn đề đặt ra là, khi nào thì bị coi là mắc lỗi “xe không chính chủ”?

xe không chính chủ, Nghị định 100/2019/NĐ-CP

Khi nào người điều khiển ô tô, xe máy mắc lỗi “xe không chính chủ”? (Ảnh minh hoạ)

1. Khi nào mắc lỗi “xe không chính chủ”?

Theo quy định hiện hành, ngay cả Luật giao thông đường bộ 2008 và các văn bản hướng dẫn cũng không có hành vi nào là “xe không chính chủ”. Tuy nhiên, theo quy định tại Thông tư 15/2014/TT-BCA và Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì ta có thể hiểu lỗi “xe không chính chủ” ở đây chính là hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô, xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô.

Theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì trong trường hợp này, xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô, xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô sẽ bị xử phạt.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 10 Điều 80 Nghị định 100/2019/NĐ-CP việc xác minh để phát hiện hành vi vi phạm lỗi xe không chính chủ của chủ phương tiện chỉ được thực hiện khi cá nhân, tổ chức đến cơ quan CSGT đề thực hiện thủ tục đăng ký, di chuyển xe hoặc trong quá trình điều tra giải quyết các vụ tai nạn giao thông. Lực lượng CSGT khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên đường khi tiến hành kiểm tra giấy tờ xe sẽ không xác minh và xử phạt đối với hành vi vi phạm không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (tức xe không chính chủ).

Do đó, có thể kết luận chỉ khi thông qua điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông hoặc qua công tác đăng ký xe mà phát hiện chủ xe không làm thủ tục đăng ký sang tên xe để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên mình khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế thì mới bị coi là mắc lỗi “xe không chính chủ”.

2. Mức xử phạt đối với “xe không chính chủ”

Theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô mà không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô; thì phạt tiền như sau:

- Các nhân bị phạt từ 400.00 – 600.000 đồng.

- Tổ chức bị phạt từ 800.000 – 1.200.000 đồng.

Bên cạnh đó, điểm l khoản 7 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô mà không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô; thì phạt tiền như sau:

- Cá nhân bị phạt từ 2.000.000 đồng - 4.000.000 đồng.

- Tổ chức bị phạt từ 4.000.000 đồng 8.000.000 đồng.

Ngoài bị phạt tiền cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị buộc làm thủ tục đăng ký xe, đăng ký sang tên, đổi lại, thu hồi Giấy đăng ký xe, biển số xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định (trừ trường hợp bị tịch thu phương tiện) để khắc phục hậu quả.

Qua phân tích trên, cần hiểu rõ không phải đi xe của người khác trên đường thì sẽ mắc lỗi “xe không chính chủ”.

Lê Vy

Gởi câu hỏi

128

Văn bản liên quan