Người lao động có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần lý do

Đây tiếp tục là một trong những nội dung đáng chú ý được đề xuất sửa đổi, bổ sung tại Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi đang được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội xin ý kiến góp ý.

Người lao động được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần lý do

Cụ thể, Điều 35 của Dự thảo quy định về Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đã đưa ra 02 phương án để xin ý kiến.

Phương án 01: Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không vì lý do gì mà chỉ cần thời hạn báo trước.

Theo đó, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước:

- Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

- Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 01 tháng trở lên;

- Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 01 tháng.

Người lao động không cần báo trước theo quy định trên trong những trường hợp sau:

  • Người lao động không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận;
  • Người lao động không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn như đã thống nhất giữa các bên;
  • Người lao động bị ngược đãi, quấy rối tình dục hoặc cưỡng bức lao động.
  • Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

Lưu ý: Người lao động phải báo trước dài hơn thời hạn quy định trên đối với một số ngành nghề, công việc đặc thù theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, nếu phương án 01 được thông qua thì từ nay người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với người sử dụng lao động mà không bắt buộc phải có lý do như hiện nay, chỉ cần tuân thủ đúng thời han báo trước là được.

Phương án 2: Giữ nguyên như quy định hiện hành. Theo đó, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn nhưng phải có lý do và phải tuân thủ thời hạn báo trước theo quy định.

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn lao động đã điều trị 90 ngày đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

e) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g Khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ Khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 139 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 139 của Bộ luật này.

 

- Nguyễn Trinh -  

Mọi ý kiến, thắc mắc của Bạn đọc sẽ được Thư Ký Luật trả lời riêng qua email!

223

Văn bản liên quan