Người nước ngoài lấy vợ Việt Nam có được nhập quốc tịch Việt Nam không?

Thư Ký Luật đã nhận được rất nhiều câu hỏi từ đọc giả về việc người nước ngoài kết hôn với vợ là người Việt Nam thì có được nhập quốc tịch Việt Nam không, thủ tục như thế nào?

Người nước ngoài lấy vợ Việt Nam có được nhập quốc tịch Việt Nam không?

Về vấn đề này, Ban biên tập Thư Ký Luật giải đáp như sau:

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định công dân nước ngoài là vợ hoặc là chồng của công dân Việt Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam nếu có các điều kiện sau:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;

- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam.

Ngoài ra, những người này phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép.

Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có tên gọi Việt Nam. Tên gọi này do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa chọn.

Lưu ý: Người xin nhập quốc tịch Việt Nam không được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Như vậy, người nước ngoài lấy vợ là người Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên.

Thủ tục xin nhập quốc tịch Việt Nam

Căn cứ theo Điều 21 Luật Quốc tịch Việt Nam, đối với trường hợp người nước ngoài lấy vợ/chồng là người Việt Nam thì hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam bao gồm các loại giấy tờ sau:

- Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam;

Mẫu đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam

- Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế;

- Bản khai lý lịch;

- Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;

Hồ sơ được nộp tại Sở Tư pháp nơi người xin nhập quốc tịch cư trú.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp.

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy có đủ điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người xin nhập quốc tịch Việt Nam để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy cho thôi quốc tịch nước ngoài của người xin nhập quốc tịch Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

Trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài, người xin nhập quốc tịch Việt Nam là người không quốc tịch thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin nhập quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

Như vậy, tổng thời gian từ khi nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch cho đến khi người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam được công nhận có quốc tịch Việt Nam là 105 ngày.

Bảo Ngọc

Gởi câu hỏi

401