Những điểm mới trong Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Trên cơ sở kế thừa, bổ sung những nội dung cần thiết rút ra từ tổng kết thực hiện Pháp lệnh, Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. Luật gồm 9 chương, 55 điều quy định về nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam; quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam, của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Các quy định của Luật “siết chặt” việc nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo sự tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, với một số nội dung mới như sau.

1. Quy định về nguyên tắc nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú
 
- Luật quy định rõ nguyên tắc người nước ngoài có nhiều hộ chiếu chỉ được sử dụng một hộ chiếu để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam (Khoản 4 Điều 4), nhằm tránh phát sinh phức tạp trong quan hệ đối ngoại, hình sự, dân sự, đồng thời đảm bảo công tác thống kê nhà nước chính xác.
 
2. Quy định các hành vi bị nghiêm cấm
 
- Luật bổ sung quy định các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 5), gồm: Cản trở người nước ngoài và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Đặt ra thủ tục, giấy tờ, các khoản thu trái với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; sách nhiễu, gây phiền hà trong việc làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú trái phép tại Việt Nam; làm giả, sử dụng giấy tờ giả để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam. Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam. Lợi dụng việc nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam để chống lại nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, tẩy, xóa, sửa chữa nội dung giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú để người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam.
 
3. Quy định về thị thực
 
- Luật quy định thị thực không được chuyển đổi mục đích (Khoản 1 Điều 7), trong khi Pháp lệnh quy định người nước ngoài sau khi nhập cảnh nếu có nhu cầu sẽ được xét cho chuyển đổi mục đích nhập cảnh. Quy định mới này nhằm đảm bảo công tác quản lý, khắc phục tình trạng người nước ngoài xin vào Việt Nam với danh nghĩa tham quan, du lịch, sau đó xin chuyển đổi để thực hiện các mục đích khác, đặc biệt xin chuyển đổi ở lại lao động trong đó có nhiều lao động đang làm việc tại các dự án do Trung Quốc trúng thầu (đây là vấn đề phức tạp mà các bộ, ngành, địa phương đang phải phối hợp giải quyết). 
 
- Luật quy định rõ ký hiệu, thời hạn thị thực phù hợp với mục đích nhập cảnh (Điều 8, Điều 9) nhằm đảm bảo người nước ngoài vào hoạt động đúng mục đích, giúp cho công tác quản lý chặt chẽ, ngăn chặn các trường hợp hoạt động trái mục đích xin nhập cảnh.
 
- Luật quy định thời hạn thị thực cấp cho người nước ngoài vào lao động có thời hạn tối đa đến 2 năm (khoản 5 Điều 9) và cấp cho người nước ngoài vào đầu tư và luật sư nước ngoài vào hành nghề tại Việt Nam có thời hạn tối đa đến 05 năm nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống luật (Pháp lệnh quy định thị thực Việt Nam có thời hạn không quá 12 tháng, trong khi Luật Đầu tư năm 2005 quy định thời hạn của thị thực cấp cho người nước ngoài vào đầu tư tối đa là 05 năm).
 
- Luật bổ sung thêm quy định người nước ngoài muốn vào Việt Nam lao động phải được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước về lao động cấp giấy phép, sau đó cơ quan chức năng mới cấp visa cho nhập cảnh (điểm c khoản 4 Điều 10).
 
- Luật quy định quyết định đơn phương miễn thị thực có thời hạn không quá 05 năm và được xem xét gia hạn (khoản 2 Điều 13) nhằm tránh tình trạng phát sinh những phức tạp về đối ngoại khi dừng đơn phương miễn thị thực.
 
- Luật bỏ quy định cho phép cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực Việt Nam ở nước ngoài được cấp thị thực cho các trường hợp không có cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mời, bảo lãnh.
 
4. Quy định về nhập cảnh
 

- Luật bổ sung quy định người nước ngoài nhập cảnh theo diện đơn phương miễn thị thực thì hộ chiếu phải còn thời hạn sử dụng ít nhất 06 tháng và phải cách thời điểm xuất cảnh Việt Nam lần trước ít nhất 30 ngày, trừ các trường hợp mang hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ vào làm việc với cơ quan, tổ chức tại Việt Nam. Quy định này khắc phục được sơ hở mà người nước ngoài lợi dụng việc miễn thị thực để cư trú dài hạn tại Việt Nam khi hết hạn cư trú thường xuất cảnh, sau đó lại nhập cảnh để lao động, kinh doanh.
 
- Luật bổ sung thêm quy định về các trường hợp chưa cho nhập cảnh (Điều 21) gồm: Trẻ em dưới 14 tuổi không có cha, mẹ, người giám hộ hoặc người được ủy quyền đi cùng. Giả mạo giấy tờ, khai sai sự thật để được cấp giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú. Người bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh truyền nhiễm gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng. Bị trục xuất khỏi Việt Nam chưa quá 03 năm kể từ ngày quyết định trục xuất có hiệu lực. Bị buộc xuất cảnh khỏi Việt Nam chưa quá 06 tháng kể từ ngày quyết định buộc xuất cảnh có hiệu lực. Vì lý do phòng, chống dịch bệnh. Vì lý do thiên tai. Vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 
 
5. Quy định về cư trú, tạm trú
 
- Luật bổ sung thêm quy định trách nhiệm của các cơ sở lưu trú phải chuyển thông tin khai báo tạm trú của người nước ngoài tới cơ quan quản lý xuất nhập cảnh (Khoản 2, 3 Điều 33). Quy định này nhằm giúp cho các cơ quan chức năng nắm được đầy đủ, kịp thời thông tin tạm trú của người nước ngoài, thực hiện tốt hơn công tác quản lý người nước ngoài, nhất là khi Việt Nam đã ký kết với các nước Hiệp định về miễn thị thực.
 
- Điều kiện cấp thẻ tạm trú, ký hiệu thẻ tạm trú được quy định cụ thể (Điều 36), thời hạn của thẻ tạm trú được quy định cụ thể và nâng thời hạn của thẻ tạm trú từ không quá 3 năm lên không quá 5 năm, phù hợp với từng mục đích cư trú (Điều 38).
 
- Thẻ thường trú định kỳ 10 năm được cấp đổi một lần tại cơ quan cấp thẻ (Pháp lệnh năm 2000 quy định 3 năm), và giao thẩm quyền thuộc Bộ Công an nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính.
 
- Luật bổ sung thêm quy định “Cơ sở lưu trú” là nơi tạm trú của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm các cơ sở lưu trú du lịch, nhà khách, khu nhà ở cho người nước ngoài làm việc, lao động, học tập, thực tập, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nhà riêng hoặc cơ sở lưu trú khác theo quy định của pháp luật (Điều 32). Thực tế thời gian qua, tại một số công trình xây dựng, người nước ngoài tham gia lao động và cư trú ngay trong các công trình. Các nhà thầu xây dựng làm lán trại hoặc nhà điều hành để công nhân, kỹ sư, người quản lý ở tập trung trong khuôn viên dự án. Quy định này đã đảm bảo tính bao quát, làm cơ sở quy định trách nhiệm báo cáo, quản lý của tổ chức, cá nhân bảo lãnh người nước ngoài.
 
6. Quy định về thường trú
 
- Luật mở rộng đối tượng cho xét thường trú đối với người nước ngoài là nhà khoa học, chuyên gia đang tạm trú tại Việt Nam (khoản 2 Điều 39) nhằm thu hút nhân tài phục vụ xây dựng đất nước và người không quốc tịch đã tạm trú liên tục tại Việt Nam từ năm 2000 trở về trước (Khoản 4 Điều 39). Trong pháp lệnh không quy định đối tượng này thuộc diện được xét cho thường trú. Trên thực tế hiện nay có một số lượng lớn người nước ngoài đã ở Việt Nam từ trước năm 2000 nhưng không có giấy tờ chứng minh quốc tịch. Quy định này nhằm phục vụ công tác quản lý của cơ quan chức năng và tạo tiền đề cho những người này xin nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch, hạn chế tình trạng người không quốc tịch ở nước ta.
 
- Luật quy định thẻ thường trú định kỳ 10 năm được cấp đổi một lần tại cơ quan cấp thẻ thay vì quy định 3 năm trong Pháp lệnh và giao thẩm quyền thuộc Bộ Công an. Quy định này nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính.
 
7. Quy định về trách nhiệm bảo lãnh 
 

- Luật quy định cụ thể các cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh; thủ tục mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh tại cơ quan có thẩm quyền Bộ Ngoại giao; thủ tục mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an; thủ tục cấp thị thực tại cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực của Việt Nam ở nước ngoài; các trường hợp được giải quyết cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế nhưng đảm bảo công tác thông tin để Bộ Công an thống nhất quản lý.
 
- Luật bổ sung thêm quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh cho người nước ngoài vào Việt Nam (Khoản 2 Điều 45). Pháp lệnh mới chỉ quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời, bảo lãnh cho người nước ngoài vào Việt Nam mà chưa quy định rõ trách nhiệm của họ. Quy định này của Luật giúp các cơ quan chức năng quản lý được người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, khi phát sinh vấn đề phức tạp như người nước ngoài vi phạm pháp luật, tai nạn, chết,…vv thì việc giải quyết được thuận lợi hơn. 
 
8. Quy định về điều khoản thi hành
 
- Luật quy định giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực còn thời hạn được tiếp tục sử dụng cho đến khi hết thời hạn ghi trong giấy tờ đó (Điều 53).
 
- Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.

Việc ban hành Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về xuất nhập cảnh theo chủ trương cải cách hành chính của Đảng, Nhà nước ta và thực hiện cam kết trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với những chế định khác của pháp luật hành chính, các đạo luật khác có liên quan; tạo môi trường pháp lý ổn định để phát triển du lịch, kinh doanh, thương mại và đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội; phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật của người nước ngoài trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. 

Nguồn: hpn.quangbinh.gov.vn

Gởi câu hỏi

374

Văn bản liên quan