Sĩ quan công an có được tự do sử dụng súng hơi?

Gần đây, vụ việc một sĩ quan công an thử súng hơi vô ý làm chết người đã gây xôn xao dư luận. Nhiều người không khỏi thắc mắc liệu các sĩ quan công an có được tự do sử dụng súng hơi hay không? Ai được quyền sử dụng súng hơi? Bài viết này sẽ giúp làm rõ vấn đề trên.

Sĩ quan công an có được tự do sử dụng súng hơi

Sĩ quan công an có được tự do sử dụng súng hơi? (Ảnh minh họa)

1. Súng hơi là gì? Quy định của pháp luật về việc sử dụng súng hơi?

Súng hơi (bao gồm hai loại là súng ngắn hoặc súng dài), đây là loại súng bắn đạn dùng không khí hoặc khí nén, khác với các loại súng sử dụng lực đẩy do thuốc phóng cháy tạo nên (hỏa khí – vũ khí nóng). Hiện nay, nhiều người thường sử dụng loại súng này nhằm mục đích săn bắn thú rừng hoặc các loại động vật hoang dã trong tự nhiên.

Theo quy định tại Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017 thì súng hơi là một loại vũ khí. Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 3: “Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự.”

Khoản 3 Điều 3: “Súng săn là súng được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, được sử dụng để săn bắn, bao gồm: súng kíp, súng hơi và đạn sử dụng cho các loại súng này.”

Theo đó, súng hơi là một loại vũ khí và theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 5 thì việc cá nhân mua bán, sở hữu, chế tạo,… súng hơi là vi phạm pháp luật, dù cho chỉ để phục vụ cho mục đích săn bắn, trừ trường hợp cá nhân sở hữu vũ khí thô sơ là hiện vật để trưng bày, triển lãm, đồ gia bảo.

2. Sĩ quan công an có được tự do sử dụng súng hơi hay không? 

Theo quy định pháp luật hiện hành, trường hợp một số người được giao sử dụng vũ khí (trong luyện tập, thi đấu thể thao; quân đội, dân quân tự vệ,...) phải sử dụng đúng mục đích, đúng quy định; khi mang vũ khí phải mang theo giấy chứng nhận, giấy phép sử dụng; bảo quản đúng quy trình, bảo đảm an toàn, không để mất, hư hỏng; bàn giao vũ khí và giấy phép cho người có trách nhiệm quản lý, bảo quản theo đúng quy định sau khi kết thúc nhiệm vụ hoặc hết thời hạn được giao (Khoản 2, Điều 7, Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017).

Theo đó, sĩ quan công an không được tự do sử dụng súng hơi mà chỉ được phép sử dụng khi được giao và phải sử dụng đúng mục đích, đúng quy định của pháp luật.

Khi cá nhân sử dụng súng hơi nói chung, sĩ quan công an không thuộc diện được giao sử dụng hoặc sử dụng trái quy định pháp luật nói riêng thì tùy vào mức độ vi phạm mà sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

- Xử phạt vi phạm hành chính ở mức từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với với hành vi sử dụng vũ khí phép; Sử dụng các loại vũ khí trái quy định của pháp luật nhưng chưa gây ra hậu quả; trao đổi, mua bán, tặng cho, cho mượn, cho thuê các loại vũ khí (Khoản 3 điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP).

Ngoài ra, chủ thể vi phạm còn có hình phạt bổ sung áp dụng đó là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có liên quan.

- Truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 306, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 với mức phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Trường hợp phạm tội trên mà làm chết người; vi phạm với số lượng lớn;… thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khung hình phạt cao nhất đến 07 năm tù đối với các trường hợp nặng hơn khác, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Trường hợp vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 307, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Khung hình phạt thấp nhất của tội này là phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp làm chết 01 người, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên,…. Khung hình phạt cao nhất đến 15 năm tù đối với các trường hợp nặng hơn khác.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hoa Hồng 

Gởi câu hỏi

474

Văn bản liên quan