Tòa án không được công nhận sự thỏa thuận về mức lãi suất cao hơn quy định

10:05, 08/03/2019

Thỏa thuận của bà H và bà T là vi phạm điều cấm của pháp luật, bởi vậy Tòa án không được công nhận sự thỏa thuận của đương sự đối với số tiền lãi bà T đồng ý trả cho bà H là 32 triệu đồng ngoài số tiền 40 triệu đồng theo quy định.

Đối với tình huống trong bài trao đổi: ''Tòa án giải quyết thế nào khi đương sự thỏa thuận lãi suất vay cao hơn quy định? của tác giả Dương Tấn Thanh đăng trên Kiemsat.vn ngày 07/3/2019, tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất.

Ảnh minh họa

Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một trong những quyền được đề cao trong pháp luật dân sự, được quy định tại Điều 5 - Chương II Những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể:

1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.

2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Như quy định trên các đương sự có quyền tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án tuy nhiên thỏa thuận đó phải không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Như ví dụ đã nêu bà H và bà T có quyền tự thỏa thuận đối với mức lãi suất của khoản vay. Song mức lãi suất phải tuân thủ đúng quy định tại khoản 1, Điều 468 BLDS năm 2015, không được vượt quá 20%/năm. Việc bà H và bà T thỏa thuận mức lãi suất 3%/tháng (36%/năm) đối với khoản vay là vượt quá mức lãi suất cho phép. Theo đó, thỏa thuận của bà H và bà T là vi phạm điều cấm của pháp luật, bởi vậy Tòa án không được công nhận sự thỏa thuận của đương sự đối với số tiền lãi bà T đồng ý trả cho bà H là 32 triệu đồng ngoài số tiền 40 triệu đồng mà bà T phải trả cho bà H theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Kiểm sát

Mọi ý kiến, thắc mắc của Bạn đọc sẽ được Thư Ký Luật trả lời riêng qua email!

1,141