Che giấu tội phạm, giống và khác gì với không tố giác tội phạm?

Chị Hoàng Thị Lam (Quốc Oai, Hà Nội) có hỏi: Tôi đọc tin tức trên mạng xã hội, xem các chương trình xét xử vụ án hình sự trên truyền hình trong thời gian qua thì tôi có thắc mắc mong được giải đáp sau: tội không tố giác tội phạm và tội che giấu tội phạm có những điểm gì giống và khác nhau?

Trả lời:

HIện nay hai loại tội trên đều được quy định tai Bộ luật hình sự 2015. Theo đó:

- Tại điều 18 bộ luật trên quy định về tội che giấu tội phạm như sau:

+ Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

+ Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.”

- Tội không tố giác tội phạm được quy định tại điều 19 bộ luật trên:

+ Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

+ Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

+ Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Điểm giống nhau: 

- Đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự của hai loại tội này là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác. Đây cũng chính là điểm mới của bộ luật hình sự 2015 so với bộ luật cũ.

Đối Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì đối với tội che giấu tội phạm thì đối tượng: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội nếu có hành vi che giấu tội phạm thì đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn đối với bộ luật 2015 thì những đối tượng trên được miễn trách nhiệm hình sự trừ hành vi che giấu thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này

- Mặt chủ quan: Cả hai loại tội này đều là lỗ cố ý. Người che giấu tội phạm và người không tố giác tội phạm biết rõ tội phạm đã được thực hiện, biết rõ hành vi là cản trở hoạt động điều tra, xử lý tội phạm, gây khó khăn cho hoạt động này, tuy nhiên họ mong muốn che giấu trót lọt tội phạm

 Điểm khác nhau:

- Tội che giấu tội phạm: 

Mặt khách quan, tội che giấu tội phạm được thực hiện bằng phương pháp hành động, tội này được thực hiện bằng các hành vi: che giấu người phạm tội, che giấu các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc hành vi khác cản trở việc điều tra, xử lý người phạm tội. Những hành vi này được thực hiện một cách độc lập, sau khi người khác đã thực hiện tội phạm mà không hứa hẹn trước, vì vậy tội này không có đồng phạm, mà là tội phạm độc lập.

Mức hình phạt đối với loại tội này: Điều 389 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt đối với tội che giấu tội phạm là phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm. Ngoài ra phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

-  Tội không tố giác tội phạm 

Mặt khách quan của tội này được thực hiện bằng phương pháp không hành động. Lẽ ra người phạm tội khi biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện phải tố giác với cơ quan có thẩm quyền, nhưng họ đã không thực hiện trách nhiệm của mình. Khác với tội che giấu tội phạm, tội không tố giác tội phạm được thực hiện khi tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác.

Mức hình phạt đối với loại tội này: Điều 390 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt đối với tội không tố giác tội phạm là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. 

Trên đây là những điểm khác nhau giữa tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm. Bạn có thể tham khảo những phân tích trên để hiểu rõ hơn về vấn đề mà bạn đang thắc mắc .

Nguồn: Báo Pháp luật

107

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan