Chưa hết những vướng mắc khi áp dụng LĐT, LDN và các Luật chuyên ngành

Đến thời điểm hiện tại có thể nói các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các Luật có liên quan cơ bản đã đầy đủ. Tuy nhiên, đến nay vẫn tồn tại tình trạng thiếu thống nhất giữa các bộ, ngành trong việc ban hành các điều kiện đầu tư kinh doanh, thẩm quyền ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh cũng như văn bản hướng dẫn thực hiện; đồng thời, sự thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật đang là rào cản lớn khiến nhiều Doanh nghiệp gặp khó khăn.

Hiện nay, có một số doanh nghiệp FDI có nhu cầu bổ sung ngành nghề kinh doanh; để thực hiện việc cấp bổ sung ngành nghề kinh doanh cho các doanh nghiệp FDI, cơ quan đăng kinh doanh phải căn cứ theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (bao gồm Biểu cam kết về dịch vụ của Việt Nam trong WTO, các Hiệp định song phương và khu vực) để xem xét cấp, điều chỉnh bổ sung ngành, nghề kinh doanh cho các doanh nghiệp FDI; riêng đối với ngành, nghề mà Việt Nam chưa cam kết hoặc ngành, nghề dịch vụ không quy định tại Biểu cam kết về dịch vụ của Việt Nam trong WTO, cơ quan đăng kinh doanh sẽ lấy ý kiến các Bộ, ngành liên quan trước khi xem xét, quyết định. Đây là một khó khăn không nhỏ đối với cán bộ, công chức cơ quan đăng ký kinh doanh khi chưa có kinh nghiệm và hiểu biết nhiều trong lĩnh vực này, thời gian cấp phép kéo dài, làm cho các doanh nghiệp FDI chậm tiếp cận với môi trường đầu tư kinh doanh ở nước ta.

Chưa có hướng dẫn cụ thể thủ tục giãn tiến độ đầu tư hoặc điều chỉnh dự án đầu tư đối với trường hợp các dự án không thuộc diện phải cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo Luật Đầu tư cũ (đối với dự án đầu tư có quy mô dưới 300 tỷ đồng và không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện); hướng dẫn việc quản lý đối với các Dự án sử dụng đất nhưng không cấp Quyết định Chủ trương đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Đối với các dự án đầu tư sau khi được cấp quyết định chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư 2014 và trong thời hạn 5 ngày làm việc Cơ quan đăng ký đầu tư phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án; nhưng quy định này chỉ áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài mà không áp dụng cho nhà đầu tư trong nước, các tổ chức kinh tế. Do đó, khi nhà đầu tư trong nước, các tổ chức kinh tế có yêu cầu điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không thuộc diện phải điều chỉnh Quyết định chủ trương đầu tư (người đại diện theo pháp luật, tiến độ thực hiện dự án…) thì Cơ quan đăng ký đầu tư phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư rồi mới thực hiện tiếp bước cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh cho dự án, dẫn đến nhiều thủ tục rườm rà, tốn nhiều thời gian cho doanh nghiệp.

 Đối với trường hợp điều chỉnh hoặc giãn tiến độ chỉ nêu rõ tổng thời gian tối đa giãn tiến độ không quá 24 tháng; nhưng không quy định cụ thể là được điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án trong thời gian bao lâu; tuy nhiên trên thực tế công tác bồi thường, GPMB sẽ mất rất nhiều thời gian, do vậy đề nghị xem xét thời gian kéo dài; đồng thời, trong Luật Đầu tư và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư không quy định việc điều chỉnh tiến độ tối đa bao nhiêu lần và nếu trong trường hợp quy định tối đa số lần điều chỉnh tiến độ thì dự án có được phép giãn tiến độ nữa hay không.

Một ví dụ thực tế khác là về công tác báo cáo: theo quy định tại Khoản 2, Điều 71, Luật Đầu tư về chế độ báo cáo định kỳ, quy định: “hàng tháng, hàng quý, hàng năm, nhà đầu tư, tổ chức kinh tế thực hiện báo cáo cơ quan đăng ký đầu tư, gồm các nội dung: vốn đầu tư thực hiện, kết quả hoạt động đầu tư kinh doanh, lao động, nộp ngân sách nhà nước...”.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện báo cáo của nhà đầu tư về các nội dung nêu trên chưa đầy đủ và việc triển khai thực hiện chưa nghiêm túc, mặc dù cơ quan quản lý nhà nước nhiều lần có văn bản đôn đốc nhắc nhở. Đối với doanh nghiệp FDI: đã được tập huấn hướng dẫn thực hiện thủ tục đăng ký tạo tài khoản doanh nghiệp và thực hiện báo cáo định kỳ trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư. Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa áp dụng hình thức báo cáo qua hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư. Bên cạnh đó, thông tin báo cáo của nhà đầu tư đã thiếu lại còn không chính xác, gây khó khăn trong công tác tổng hợp báo cáo.

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện cũng cho thấy phát sinh một số vướng mắc trong việc áp dụng Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các luật liên quan. Điều này dẫn đến sự chồng chéo khó áp dụng vào thực tiễn, cụ thể:

Theo quy định tại Điều 25, Luật Bảo vệ môi trường, yêu cầu phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường trước khi quyết định chủ trương đầu tư là chưa hợp lý, vì tại thời điểm này, nhà đầu tư mới đề xuất địa điểm và chưa có dự án đầu tư được phê duyệt nên không có đủ căn cứ để lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường; đồng thời, sẽ dẫn đến rủi ro cho nhà đầu tư khi dự án không được chấp thuận vì những lý do không liên quan đến môi trường hoặc thay đổi địa điểm thực hiện dự án.

Theo Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn, điều kiện để chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất là phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trong khi đó, địa điểm thực hiện dự án do nhà đầu tư đề xuất, phát sinh theo thực tế nên thường không có trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, dẫn đến việc phải chờ bổ sung, điều chỉnh kế hoach sử dụng đất, mất nhiều thời gian.

Đối với các dự án đầu tư khu đô thị mới, dự án phát triển nhà ở: theo Luật Đầu tư thì cơ quan tham mưu trình UBND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư hoặc cấp, điều chỉnh, chuyển nhượng…dự án đầu tư đối với trường hợp không thuộc diện Quyết định chủ trương đầu tư nhưng theo Nghị định 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đô thị và Luật kinh doanh bất động sản thì Sở Xây dựng là đơn vị được UBND cấp tỉnh ủy quyền thực hiện việc cấp quyết định chủ trương đầu tư và chuyển nhượng dự án.

Nghị quyết 43/NQ-CP ngày 06/6/2014 của Chính phủ về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh (ban hành trước Luật Đầu tư số 67/2014/QH13) có những nội dung chưa phù hợp với Luật đầu tư số 67/2014/QH13.

Có thể thấy, sự chồng chéo giữa các luật, các văn bản hướng dẫn thi hành luật gây khó khăn, lúng túng cho các cơ quan quản lý nhà nước khi triển khai thực hiện.

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ngãi

143

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan