Điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ: Đánh đố doanh nghiệp

Điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ đang là rào cản lớn, thậm chí đánh đố các doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường này.

Nghị định số 69/2016/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 1/7/2016, khi ra đời được kỳ vọng tạo “cú hích” cho sự ra đời và phát triển bền vững của thị trường mua bán nợ, trong đó có nợ xấu của doanh nghiệp, của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, Nghị định đã phát sinh nhiều bất cập.

Điều kiện mức vốn quá lớn

Thứ nhất, đối tượng áp dụng của Nghị định 69 là tương đối hẹp, chỉ bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu kinh doanh dịch vụ mua bán nợ (Điều 2).

Trong khi đó, hàng loạt chủ thể đang hoạt động trên thị trường mua bán nợ hiện nay đều bị gạt ra khỏi đối tượng áp dụng của Nghị định 69 và tiếp tục được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác.

Vậy có nên chăng ban soạn thảo nghiên cứu để đưa các đối tượng khác vào trong phần đối tượng điều chỉnh của Nghị định sửa đổi và bổ sung.

Thứ hai, về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ: Nghị định 69 quy định cá nhân, tổ chức có nhu cầu kinh doanh dịch vụ mua bán nợ phải thành lập doanh nghiệp, có vốn điều lệ tối thiểu 100 tỉ đồng” (khoản 1, Điều 4 và khoản 2, Điều 7). Doanh nghiệp môi giới, tư vấn mua bán nợ phải có vốn điều lệ tối thiểu 5 tỉ đồng. Vốn điều lệ của doanh nghiệp kinh doanh sàn giao dịch nợ tối thiểu là 500 tỉ đồng (khoản 2, Điều 8).

Ngoài ra, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ còn phải đáp ứng các điều kiện khác được quy định tại Nghị định 69 và phải đăng ký ngành nghề kinh doanh dịch vụ mua bán nợ theo quy định của pháp luật.

Những điều kiện về vốn với mức vốn quá lớn như quy định tại Nghị định 69 là cản trở rất lớn, thậm chí là đánh đố đối với các doanh nghiệp muốn tham gia vào lĩnh vực này.

Kiến nghị của tôi là cần phải bãi bỏ quy định về mức vốn pháp định, tạo điều kiện thuận lợi để có nhiều doanh nghiệp có thể tham gia thị trường. Không nên đặt điều kiện vốn pháp định để hạn chế việc tham gia thị trường của các doanh nghiệp.

Tiêu chuẩn người quản lý “khắt khe”

Ngoài ra, quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 69: “Người quản lý của doanh nghiệp mua bán nợ phải có trình độ học vấn từ đại học trở lên; là người quản lý hoặc có ít nhất năm năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, kế toán, kiểm toán, pháp luật, định giá tài sản hoặc mua bán nợ”.

Theo tôi, quy định trên đây có phần khắt khe và không phù hợp, vì xét cho cùng thì khoản nợ cũng là một loại hàng hóa và để nó lưu thông, chuyển nhượng được, quan trọng là thực lực tài chính của bên mua và nhu cầu của thị trường cũng như khả năng bán lại của họ.

Điều kiện về mức vốn quá lớn như quy định tại Nghị định 69 là cản trở rất lớn, thậm chí là đánh đố đối với các doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường này.

Doanh nghiệp mua bán nợ vốn ít, họ không phải là tổ chức tín dụng, không có chức năng huy động tiền trong dân và cho vay, nên quy định người quản lý phải đáp ứng tiêu chuẩn gần như điều hành một ngân hàng xem ra chưa thật sự phù hợp với tình hình thực tế.

Mua bán nợ là giao dịch trong đó các quyền và nghĩa vụ đối với một khoản nợ được chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác và cũng có quan điểm cho rằng, “nợ” chỉ là một loại hàng hóa để mua bán thông thường, không có ảnh hưởng nào tới lợi ích công cộng được liệt kê tại khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư năm 2014.

Do đó, ban soạn thảo cần xem xét, đánh giá sự cần thiết của quy định này theo hướng nên coi hoạt động mua bán nợ là một giao dịch dân sự thông thường không phải là một ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Do đó, đề nghị xem xét bỏ “kinh doanh dịch vụ mua bán nợ” ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật đầu tư năm 2014.

Không được vay vốn ngân hàng là vô lý

Có một điểm hạn chế tại Nghị định 69 là quy định “Doanh nghiệp mua bán nợ không được nhận cấp tín dụng từ ngân hàng để mua nợ của khách hàng vay tại chính ngân hàng đó” (khoản 5, Điều 7).

Mục đích của quy định này là để phòng ngừa khả năng các doanh nghiệp này vay tiền ngân hàng mua nợ cũ để tạo ra nợ mới (hay thực chất là đảo nợ).

Theo tôi, không nên quy định hạn chế như vậy, vì giả sử doanh nghiệp mua bán nợ vay tiền của một tổ chức tín dụng này để mua nợ của khách hàng tại một tổ chức tín dụng khác thì điều đó là hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc thị trường và doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phát sinh từ các khoản vay độc lập.

Hơn nữa, với vốn điều lệ 100 tỉ đồng, nếu không cho các doanh nghiệp kinh doanh mua bán nợ vay vốn tín dụng để tham gia mua nợ thì các doanh nghiệp này sẽ rất khó khăn trong hoạt động.

Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW

Nguồn: Diễn đàn Doanh nghiệp

135

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan