Hải quan và doanh nghiệp đều lúng túng trong quản lý XNK hàng mật mã dân sự

Đâu là sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự (MMDS) thuộc danh mục phải xin giấy phép xuất nhập khẩu, doanh nghiệp cần phải có điều kiện gì để được xuất nhập khẩu sản phẩm, dịch vụ này... đang là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp chưa có được sự giải đáp thỏa đáng.

Theo Luật An toàn thông tin mạng được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 19-11-2015, sản phẩm MMDS là các tài liệu, trang thiết bị kỹ thuật và nghiệp vụ mật mã để bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước. Tuy nhiên, các sản phẩm này có thể bị sử dụng vào các mục đích xấu, phương hại đến an ninh quốc gia nên việc kinh doanh, sử dụng cần phải được kiểm soát chặt chẽ.

Ngày 1-7-2016, Chính phủ ban hành Nghị định 58/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ MMDS và xuất nhập khẩu sản phẩm MMDS. Cục Quản lý MMDS và kiểm định sản phẩm mật mã thuộc Ban cơ yếu Chính phủ được giao làm đầu mối cấp giấy phép kinh doanh, thanh kiểm tra, xử lý vi phạm…

Dù Nghị định 58 này thay thế cho Nghị định 73/2007/NĐ-CP (ít điều kiện ràng buộc hơn), nhưng do ngày ban hành Nghị định 58 là 1-7-2016 cũng là ngày nghị định này có hiệu lực thi hành nên nhiều doanh nghiệp kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa liên quan đến các sản phẩm MMDS gặp lúng túng vì không có thời gian chuẩn bị. Ngay cả các đơn vị hải quan cũng gặp lúng túng, như ông Đặng Thái Thiện, Phó phòng Giám sát quản lý, Cục Hải quan TPHCM cho biết tại buổi tọa đàm với doanh nghiệp về triển khai thực hiện Nghị định 58 tổ chức hôm nay 21-12 tại TPHCM.

Tại Phụ lục II của Nghị định 58 có ghi danh mục sản phẩm MMDS xuất nhập khẩu phải có giấy phép theo mã HS 4 số, 6 số, 8 số nhưng tính ra phải có đến hàng ngàn sản phẩm nằm trong các nhóm mã HS này. Điều gây lúng túng là trong cùng mã HS, có những sản phẩm có chức năng MMDS, có những sản phẩm không có chức năng này, có những sản phẩm chức năng MMDS phụ, nhỏ hoặc rất hạn chế.

Phân biệt sản phẩm nào có chức năng MMDS trong các sản phẩm xuất nhập khẩu cùng mã HS hiện nay chủ yếu dựa vào sự tự giác của doanh nghiệp. Trên tờ khai hải quan, doanh nghiệp phải điền mã HS, tên gọi sản phẩm và mô tả chức năng mật mã của sản phẩm. Nếu sản phẩm có chức năng MMDS thì doanh nghiệp phải có giấy phép kinh doanh, xuất nhập khẩu sản phẩm loại này.

Song nhiều doanh nghiệp cho rằng đến chính các cán bộ, nhân viên phụ trách hoạt động xuất nhập khẩu và thậm chí phụ trách kỹ thuật của doanh nghiệp cũng khó hiểu được những khái niệm chuyên ngành MMDS để mà biết sản phẩm xuất nhập khẩu của họ có thuộc diện sản phẩm MMDS hay không, ví dụ như một số loại máy in, máy fax, bộ điện thoại hữu tuyến…

Về phía hải quan, ông Thiện cho rằng các cán bộ rất nhiều việc, để nhận diện hàng hóa nào thuộc loại MMDS cũng rất khó, không nhận diện được tại chỗ nếu doanh nghiệp không khai báo hàng hóa có thuộc loại này không. Thêm nữa, các sản phẩm công nghệ thay đổi rất nhanh, có những sản phẩm trước không có tính năng MMDS nay họ thêm vào, cập nhật rất khó. Cho thông quan hàng hóa thì sau này phát sinh trách nhiệm bên hải quan phải chịu. Không cho thông quan thì làm ách tắc hoạt động của doanh nghiệp, phải mất thời gian đem đi trưng cầu giám định hàng hóa, mà đầu mối duy nhất thực hiện việc giám định là Cục Quản lý MMDS và kiểm định sản phẩm mật mã ở Hà Nội.

Ông Vũ Văn Xứng, Cục trưởng Cục Quản lý MMDS và kiểm định sản phẩm mật mã, cho rằng quy trình hiện tại được xây dựng theo thế giới, thỏa thuận Wassenaar được 41 nước ký, không có cách quản lý nào tốt hơn, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số “điểm mờ” và trách nhiệm phải khai báo trung thực là của doanh nghiệp, dưới sự giám sát của hải quan.

“Không thể nói các doanh nghiệp không biết họ nhập khẩu hàng gì về. Giá của những sản phẩm có MMDS khác hẳn hàng không có MMDS. Ví dụ máy fax có những tính năng MMDS giá gấp 5-10 lần giá máy fax thông thường. Các doanh nghiệp có thể tham khảo kỹ hàng mình nhập có trong phụ lục ở Nghị định 58 không, nếu chưa rõ có thể gọi đường dây nóng đến cục để hỏi”, ông Xứng nói.

Song ông Xứng cũng thừa nhận về lâu dài cục sẽ cho xây dựng danh mục từng sản phẩm cụ thể có MMDS để các doanh nghiệp tra cứu. Hiện tại, nghị định này còn mới, chưa triển khai việc xây dựng danh mục ngay được.

Ông Ngô Minh Hải, Phó cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan (Tổng cục Hải quan), nhận xét rằng vướng mắc hiện tại của doanh nghiệp cũng là vướng mắc của các cơ quan hải quan. Có những quy định trong Nghị định 58 chưa thật sự rõ ràng nên cần sửa đổi dần. Ông Hải đề xuất trước mắt, giữa Cục Quản lý MMDS và các cơ quan hải quan địa phương cần hình thành cơ chế tham vấn nhanh để giải quyết nhanh cho doanh nghiệp. Hoặc Cục Quản lý MMDS tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan, hải quan tin vào khai báo của doanh nghiệp để cho thông quan nhanh, Cục Quản lý MMDS sẽ kiểm tra sau thông quan. Còn về lâu dài, Cục Quản lý MMDS nên tham gia vào cơ chế một cửa quốc gia như hơn 10 bộ ngành khác để tham gia quản lý các mặt hàng thuộc chuyên ngành quản lý của mình, nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp.

Một vấn đề lớn nữa mà các doanh nghiệp thắc mắc là họ chỉ nhập hàng hóa có MMDS để sử dụng trong nội bộ, chứ không kinh doanh mà cũng phải xin giấy phép kinh doanh từ Ban cơ yếu Chính phủ thì rất phức tạp. Ông Xứng giải đáp rằng việc này không thể khác được, vì hàng hóa có tính năng MMDS là hàng lưỡng dụng, có thể coi như một loại vũ khí, có thể gây ảnh hưởng lên an ninh quốc gia. Tinh thần của Luật An toàn thông tin mạng và Nghị định 58 là quản lý người dùng các hàng hóa này. Mà muốn quản lý được người dùng thì phải nắm được các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh hàng hóa. Doanh nghiệp nào muốn nhập hàng hóa về dùng, không còn cách nào khác là phải đi qua các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh hàng hóa loại này.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

188

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan