Kinh doanh dịch vụ mật mã dân sự không phép có thể bị phạt tới 50 triệu đồng

Theo Nghị định mới của Chính phủ, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự mà không có Giấy phép, sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 40 - 50 triệu đồng.

Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự mà không có Giấy phép, sẽ bị phạt tiền tới 50 triệu đồng.

Nghị định 58/2016/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định số 73/2007/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2007 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016, áp dụng cho doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ; xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm dịch vụ mật mã dân sự và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan; tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực dịch vụ mật mã dân sự; người có thẩm quyền lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực mật mã dân sự và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Mật mã dân sự là kỹ thuật mật mã và sản phẩm mật mã được sử dụng để bảo mật hoặc xác thực đối với thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước.

Theo Luật An toàn thông tin mạng, sản phẩm mật mã dân sự là các tài liệu, trang thiết bị kỹ thuật và nghiệp vụ mật mã để bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước. Dịch vụ mật mã dân sự gồm dịch vụ bảo vệ thông tin sử dụng sản phẩm mật mã dân sự; kiểm định, đánh giá sản phẩm mật mã dân sự; tư vấn bảo mật, an toàn thông tin mạng sử dụng sản phẩm mật mã dân sự.

Theo đó, cùng với việc ban hành Danh mục 11 nhóm sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, Chính phủ cũng ban hành Danh mục 8 sản phẩm, 3 dịch vụ mật mã dân sự. Cụ thể, 8 sản phẩm gồm: Sản phẩm sinh khóa mật mã, quản lý hoặc lưu trữ khóa mật mã; Thành phần mật mã trong hệ thống PKI; Sản phẩm bảo mật dữ liệu lưu giữ; Sản phẩm bảo mật dữ liệu trao đổi trên mạng; Sản phẩm bảo mật luồng IP và bảo mật kênh; Sản phẩm bảo mật thoại tương tự và thoại số; Sản phẩm bảo mật vô tuyến; và sản phẩm bảo mật Fax, điện báo.

Danh mục 3 dịch vụ mật mã dân sự là: Dịch vụ bảo vệ thông tin sử dụng sản phẩm; Dịch vụ kiểm định, đánh giá sản phẩm; và dịch vụ tư vấn bảo mật, an toàn thông tin mạng sử dụng sản phẩm mật mã dân sự.

Theo Luật an toàn thông tin mạng, khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ thuộc Danh mục sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự, doanh nghiệp sẽ phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự.

Nghị định 58 cũng quy định rõ, doanh nghiệp được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật an toàn thông tin mạng.

Cụ thể, doanh nghiệp được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự khi đáp ứng đủ các điều kiện: Có đội ngũ quản lý, điều hành, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu chuyên môn về bảo mật, an toàn thông tin; có hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất phù hợp với quy mô cung cấp sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; có phương án kỹ thuật phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; có phương án bảo mật và an toàn thông tin mạng trong quá trình quản lý và cung cấp sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; có phương án kinh doanh phù hợp.

Trong đó, về điều kiện đội ngũ quản lý, điều hành, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu chuyên môn về bảo mật, an toàn thông tin, Nghị định nêu rõ, doanh nghiệp phải có ít nhất 2 cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học trở lên thuộc một trong các ngành điện tử - viễn thông, công nghệ thông tin, toán học, an toàn thông tin; cán bộ quản lý, điều hành tốt nghiệp một trong các ngành điện tử - viễn thông, công nghệ thông tin, toán học, an toàn thông tin hoặc tốt nghiệp một ngành khác và có chứng chỉ đào tạo về an toàn thông tin.

Còn về điều kiện có phương án kinh doanh phù hợp, Nghị định quy định: Doanh nghiệp phải có hệ thống phục vụ khách hàng và đảm bảo đảm kỹ thuật phù hợp với phạm vi, đối tượng cung cấp, quy mô số lượng sản phẩm.

Việc cấp mới, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 32, Điều 33 Luật an toàn thông tin mạng.

Doanh nghiệp thực hiện các thủ tục cấp mới, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ nộp hồ sơ trực tiếp, hoặc qua hệ thống bưu chính, hoặc dịch vụ công trực tuyến đến Ban Cơ yếu Chính phủ thông qua Cục Quản lý mật mã dân sự và Kiểm định sản phẩm mật mã.

Đáng chú ý, Nghị định 58 của Chính phủ cũng quy định rõ việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực mật mã dân sự. Ban Cơ yếu Chính phủ được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ và sử dụng sản phẩm. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và sử dụng sản phẩm chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Cụ thể, mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng được áp dụng với 1 trong các hành vi vi phạm: Mua, bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ, Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự; Tẩy xóa, sửa chữa các nội dung trong Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự hoặc Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự; Không làm thủ tục sửa đổi, bổ sung khi thay đổi tên, thay đổi người đại diện theo pháp luật hoặc thay đổi, bổ sung sản phẩm, dịch vụ; Không làm thủ tục cấp lại khi giấy phép bị mất hoặc hư hỏng; Không báo cáo hoặc báo cáo không đúng hạn cho Ban Cơ yếu Chính phủ về tình hình kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm và tổng hợp thông tin khách hàng; Sử dụng sản phẩm mật mã dân sự không do doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh sản phẩm cung cấp mà không khai báo với Ban Cơ yếu Chính phủ; Không lập, lưu giữ và bảo mật thông tin khách hàng, tên, loại hình, số lượng và mục đích sử dụng của sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự.

Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với hành vi kinh doanh không đúng nội dung ghi trong Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự hoặc Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự.

Mức phạt tiền từ 40 - 50 triệu đồng được áp dụng cho các hành vi vi phạm gồm: Kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mà không có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự hoặc Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự; hoặc tiếp tục kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự khi Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự đã hết hạn; Không tạm ngừng hoặc ngừng cung cấp sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự để đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Không phối hợp, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các biện pháp nghiệp vụ khi có yêu cầu. Từ chối cung cấp các thông tin cần thiết liên quan tới khóa mã cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có yêu cầu.

Bên cạnh đó, Nghị định 58 còn quy định cụ thể các hành vi vi phạm bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ và Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự từ 1 - 3 tháng; tịch thu tang vật, phương tiện để thực hiện hành vi vi phạm.

Nguồn: Diễn đàn Doanh nghiệp

130

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan