Miễn thuế TNCN tăng thêm nằm trong mức miễn thuế

Miễn thuế TNCN tăng thêm nằm trong mức miễn thuế và thời gian miễn thuế tương tự như đối với việc miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư 154/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Đây là nội dung chính trong văn bản số 893/TCT-TNCN được Tổng cục Thuế ban hành, hướng dẫn Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa giải quyết những vướng mắc về thuế TNCN.

Tổng cục Thuế cho biết, tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 154/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc miễn thuế và thời gian miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh quy định: “Miễn thuế TNCN từ ngày 1/8/2011 đến hết ngày 31/12/2011 đối với cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế TNCN ở bậc 1 của Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22 Luật Thuế TNCN”.

Tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư 140/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc miễn thuế và thời gian miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh quy định: “Miễn thuế TNCN từ ngày 1/7/2012 đến hết ngày 31/12/2012 đối với cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế thu nhập cá nhân ở bậc 1 của Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22 Luật Thuế TNCN”.

Tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư 154/2011/TT-BTC quy định : “Trường hợp cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra phát hiện số thuế TNDN của thời kỳ giảm thuế theo quy định tại Điều 1, Thông tư này lớn hơn so với số thuế đơn vị tự kê khai (kể cả trường hợp doanh nghiệp thuộc đối tượng được giảm thuế TNDN theo quy định tại Thông tư này nhưng chưa kê khai số thuế TNDN được giảm) thì doanh nghiệp được hưởng giảm thuế TNDN theo quy định đối với số thuế TNDN tăng thêm. Tùy theo mức độ vi phạm của doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra áp dụng các mức xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quy định”.

Về xử phạt hành vi vi phạm hành chính về thuế, theo quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 1 Thông tư 166/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính, các hành vi vi phạm hành chính về thuế, bao gồm: hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế; hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn; hành vi trốn thuế, gian lận thuế.

Trong đó, hành vi vi phạm quy định về thủ tục thuế bao gồm hành vi chậm nộp hồ sơ đăng ký thuế, chậm thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế so với thời hạn quy định; hành vi khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ khai thuế; hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định; hành vi vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế; hành vi vi phạm trong việc chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.

Căn cứ vào những quy định trên, Tổng cục Thuế thống nhất với ý kiến đề xuất của Cục thuế là miễn thuế TNCN tăng thêm nằm trong mức miễn thuế và thời gian miễn thuế tương tự như đối với việc miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư 154/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Tuy nhiên, khi cơ quan thuế có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra phát hiện vi phạm thì xử lý theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm pháp luật về thuế.

Nguồn: Thời báo Tài chính Việt Nam Online

127

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan