Mua bán nợ: Lối mở vẫn hẹp

“Kinh doanh dịch vụ mua bán nợ là việc thực hiện một hoặc một số hoạt động liên quan đến việc mua bán nợ nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua nợ, bán nợ, môi giới mua bán nợ, tư vấn mua bán nợ và dịch vụ sàn giao dịch nợ” - đây là quy định của khoản 6, điều 3, Nghị định 69/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh mua bán nợ ban hành ngày 1-7-2016 vừa qua.

Nghị định này được các chủ thể trên thị trường chờ đợi đã lâu, bởi nó giống như một lối mở pháp lý để tạo dựng thị trường mua bán nợ, trong đó có nợ xấu của doanh nghiệp, của các tổ chức tín dụng. Một trong những điều mà các doanh nghiệp ngóng trông nhất là điều kiện để được tham gia mua bán nợ xấu, nói chính xác là được mua nợ xấu từ VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam).

Cả thị trường đều biết VAMC đang “ôm” khối nợ tới 246.000 tỉ đồng, tương đương 12 tỉ đô la Mỹ. Cho dù đã xoay xở bằng mọi cách như phát mãi tài sản, bám người vay để thu hồi nợ, sử dụng trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ và đang chuẩn bị mua bán nợ theo giá thị trường, tức mua đứt bán đoạn, nhưng số nợ xấu của VAMC vẫn chưa giảm được bao nhiêu.

Hiện tại đối tượng được mua bán nợ xấu của ngân hàng hạn chế trong phạm vi công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc các tổ chức tín dụng, VAMC, DATC (Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam, tập trung xử lý nợ của doanh nghiệp, hầu như ít tham gia mua bán nợ xấu ngân hàng). Những đối tượng khác chỉ có thể tham gia đấu giá các tài sản đảm bảo cho ngân hàng mà VAMC hay bản thân các tổ chức tín dụng mang ra đấu giá công khai.

Nghị định 69 đã bó rất hẹp phạm vi điều chỉnh của nó. Ngay trong điều 1, nghị định nêu rõ: “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động mua bán nợ theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng” (khoản 2). Tiếp đó: “VAMC thực hiện hoạt động mua bán nợ theo quy định của Chính phủ về việc thành lập, hoạt động của VAMC” (khoản 4). Và: “DATC thực hiện hoạt động mua bán nợ theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về thành lập và hoạt động của DATC” (khoản 5). Để cho chắc ăn, về việc mua bán nợ liên quan đến trái phiếu, nghị định nhấn mạnh: “Tổ chức, cá nhân thực hiện mua bán trái phiếu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Chứng khoán, thực hiện theo quy định của Luật Chứng khoán” (khoản 3). Như vậy các hoạt động nổi trội nhất và đang là nút thắt của nền kinh tế về nợ đã nằm ngoài sự đề cập của nghị định.

Trong một cuộc trao đổi với chúng tôi mới đây, đại diện VAMC cho rằng mua bán nợ là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nên đang chờ Chính phủ, các bộ, ngành có hướng dẫn cụ thể, đặc biệt là việc có cho nước ngoài tham gia mua bán nợ hay không. Nay nếu VAMC tiếp tục chỉ vận hành theo quy định về thành lập, hoạt động của VAMC, thì vấn đề gọi vốn nước ngoài trong xử lý nợ xấu không thể chuyển động. Có một số khoản nợ hiện có đầy đủ giấy tờ pháp lý, VAMC và các ngân hàng có ý định mang ra đấu giá và sẵn sàng cắt lỗ do chúng đã được trích lập dự phòng rủi ro một phần, hoặc chủ nợ không có khả năng chờ đợi thêm, nhưng các cá nhân, tổ chức nội địa không muốn, hay không có khả năng mua bằng tiền tươi thóc thật. Trong trường hợp đó, nếu nước ngoài có tiềm lực tài chính, có thể mua không? Trước mắt là không, vì quyền sở hữu tài sản của nước ngoài như thế nào chưa rõ.

Như vậy, dịch vụ mua bán nợ căn cứ vào Nghị định 69 sẽ chỉ là nợ thuộc lĩnh vực bình thường. “Cá nhân, tổ chức có nhu cầu kinh doanh dịch vụ mua bán nợ phải thành lập doanh nghiệp, có vốn điều lệ tối thiểu 100 tỉ đồng” (khoản 1, điều 4 và khoản 2, điều 7). Doanh nghiệp môi giới, tư vấn mua bán nợ phải có vốn điều lệ tối thiểu 5 tỉ đồng. Vốn điều lệ của doanh nghiệp kinh doanh sàn giao dịch nợ tối thiểu là 500 tỉ đồng (khoản 2, điều 8).

Có một quy định rất đáng chú ý: “Doanh nghiệp mua bán nợ không được nhận cấp tín dụng từ ngân hàng để mua nợ của khách hàng vay tại chính ngân hàng đó” (khoản 5, điều 7). Quy định này mang tính ngăn ngừa khả năng đảo nợ, tức vay tiền ngân hàng mua nợ cũ để tạo ra nợ mới. Thế nhưng giả sử doanh nghiệp mua bán nợ vay tiền của tổ chức tín dụng A để mua nợ của khách hàng vay tại tổ chức tín dụng B, hay C, có được không? Theo nguyên tắc điều gì luật không cấm, doanh nghiệp được làm, thì câu trả lời trong trường hợp trên là có. Đây là vấn đề dễ gây tranh luận và ai hiểu theo kiểu nào cũng được. Với vốn điều lệ 100 tỉ đồng, nếu không vay mượn, tạo tiền từ vòng quay tiền nhanh, có thể thấy doanh nghiệp mua bán nợ sẽ khó làm nên “sự nghiệp”.

Một quy định khác “người quản lý của doanh nghiệp mua bán nợ phải có trình độ học vấn từ đại học trở lên; là người quản lý hoặc có ít nhất năm năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, kế toán, kiểm toán, pháp luật, định giá tài sản hoặc mua bán nợ” (khoản 3, điều 5). Quy định trên được một số chuyên gia nhận định là khắt khe vì nợ xét cho cùng là một thứ hàng hóa và để nó lưu thông, chuyển nhượng được, quan trọng là khả năng tài chính thực của bên mua và sự năng động của họ trong việc bán lại khoản nợ đó, hình thành nên thị trường. Doanh nghiệp mua bán nợ vốn ít, họ không phải là tổ chức tín dụng, không có chức năng huy động tiền trong dân và cho vay, nên quy định người quản lý phải đáp ứng tiêu chuẩn gần như điều hành một ngân hàng xem ra chưa thật sự phù hợp.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

109

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan