Nghị định “to” hơn Pháp lệnh?

Tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật là đề tài được bàn luận nhiều trong thời gian gần đây.

Thực tế cũng cho thấy, do nhiều nguyên nhân, đã có những văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh không phù hợp, vượt ra ngoài, thậm chí trái ngược với văn bản “nguyên mẫu” được hướng dẫn. Nguyên nhân do đâu? Do tự thân các văn bản “nguyên mẫu” cần hướng dẫn đã tỏ ra không phù hợp với thực tế, nếu chờ sửa đổi, bổ sung thì phải qua một loạt các trình tự, thủ tục... mất nhiều thời gian, vậy nên cần có cách nhìn, cách tiếp cận linh hoạt, rộng mở hơn trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn?

Thực tế thi hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và một số văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này, cụ thể là Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11.4.2005 của Chính phủ về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự đang đặt ra những vấn đề cần tháo gỡ, nếu nhìn từ khía cạnh giám sát văn bản. Tại Điều 33 của Nghị định này quy định chấp hành viên được cấp công cụ hỗ trợ để sử dụng khi thi hành công vụ. Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc cấp, trang bị công cụ hỗ trợ cho Chấp hành viên. Việc quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào nội dung này và Nghị định số 47/CP ngày 12.8.1996 của Chính phủ về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Bộ Tư pháp, Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2006/TTLT-BTP-BCA ngày 29.8.2006 hướng dẫn việc trang bị, quản lý và sử dụng công cụ hỗ trợ của cơ quan thi hành án dân sự; Theo đó, các loại công cụ hỗ trợ được trang bị cho cơ quan thi hành án dân sự gồm có: Các loại roi cao su, roi điện, gậy điện, găng tay điện; Súng bắn hơi cay, gây mê; Bình xịt hơi cay, gây mê; Súng bắn đạn nhựa, đạn cao su và các loại công cụ hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật. 

Qua nghiên cứu cho thấy, quy định tại Điều 33 cần được cân nhắc kỹ để bảo đảm phù hợp với Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Theo quy định tại Điều 14 của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên, thì Chấp hành viên không được giao nhiệm vụ sử dụng công cụ hỗ trợ trong thi hành án. Do đó, việc Nghị định số 50 quy định cho Chấp hành viên thẩm quyền được sử dụng công cụ hỗ trợ khi thi hành công vụ là không có đủ căn cứ pháp lý và chưa phù hợp với quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Bên cạnh đó, cũng theo quy định của Pháp lệnh này (khoản 3 Điều 8), thì nhiệm vụ giữ gìn trật tự, ngăn chặn những hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án không phải là trách nhiệm của cơ quan thi hành án, của Chấp hành viên, mà là trách nhiệm của cơ quan Công an. Trong trường hợp cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì cơ quan công an và các cơ quan hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp thực hiện theo yêu cầu của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án và Chấp hành viên. 

Điều đáng lưu ý là theo quy định của Thông tư số 15/2003/TT-BCA (V19) ngày 10.9.2003 của Bộ trưởng Bộ Công an về hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân, thì khi nhận được quyết định thi hành bản án, quyết định dân sự, bản án, quyết định khác do pháp luật quy định và công văn của cơ quan thi hành án yêu cầu hỗ trợ thi hành án, thì lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp có trách nhiệm bố trí lực lượng, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện bảo đảm trật tự an toàn cho việc thi hành án theo kế hoạch, phương án đã được phê duyệt; giải tán, bắt giữ người có hành vi cản trở, chống đối, tấn công người có trách nhiệm thi hành án; bảo vệ an toàn tài sản thu giữ, ngăn ngừa người phải chấp hành án hoặc người khác thực hiện hành vi tẩu tán, huỷ hoại, chiếm đoạt tài sản cần thu giữ... Trong quá trình thực thi nhiệm vụ hỗ trợ thi hành án, lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện đặc chủng và các phương tiện cần thiết khác theo quy định của pháp luật (Mục 8). Trong khi đó, Thông tư liên tịch số 05/2006/TTLT-BTP-BCA của Bộ Tư pháp, Bộ Công an về hướng dẫn việc trang bị, quản lý và sử dụng công cụ hỗ trợ của cơ quan thi hành án cũng quy định về nguyên tắc, chỉ được sử dụng công cụ hỗ trợ khi làm nhiệm vụ để phòng vệ do bị tấn công, đe doạ tính mạng, sức khoẻ của Chấp hành viên, cán bộ hoặc người khác tham gia vào việc thi hành án. Tuy nhiên, về cơ bản đây cũng chính là những tình huống thuộc trách nhiệm mà lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp phải có biện pháp xử lý như đã đề cập ở trên. Do đó, quy định tại Điều 33 Nghị định số 50 và nội dung Thông tư liên tịch số 05 cần được xem xét kỹ lại về sự cần thiết, nhằm tránh việc gây tốn kém chưa cần thiết cho ngân sách nhà nước do phải trang bị công cụ hỗ trợ cho các cơ quan thi hành án dân sự ở 64 tỉnh, thành phố trong cả nước. 

Có ý kiến cho rằng việc quy định Chấp hành viên được cấp và sử dụng công cụ hỗ trợ trong thi hành án dân sự là cần thiết và cũng phù hợp với quy định của Nghị định số 47/CP ngày 12.8.1996 về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và cũng nhằm phúc đáp yêu cầu của thực tiễn công tác thi hành án dân sự thời gian qua. Về vấn đề này, mặc dù Nghị định số 47/CP có quy định Đội thi hành án được trang bị, sử dụng vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, khi hướng dẫn, quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn  của Chấp hành viên trong thi hành án cần thì một vấn đề có tính nguyên tắc là phải căn cứ vào quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự hiện hành (năm 2004) để hướng dẫn, quy định cụ thể. Trong khi đó, việc quy định cho Chấp hành viên được trang bị và sử dụng công cụ hỗ trợ rõ ràng đã vượt quá quy định tại Điều 14 về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên trong thi hành án theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Điều đáng lưu ý là, vấn đề sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ nói chung là vấn đề hệ trọng, có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, nên việc quy định mới (so với Pháp lệnh) về thẩm quyền này cần cân nhắc kỹ. Tham khảo một số văn bản pháp luật liên quan cho thấy, thẩm quyền sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm, Cảnh sát biển... được ghi nhận và quy định ngay trong Luật bảo vệ và phát triển rừng (Điều 81), trong Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam (Điều 13)... trên cơ sở đó, các văn bản hướng dẫn mới có căn cứ để quy định cụ thể. Do đó, trở lại trường hợp cụ thể này, nếu Pháp lệnh không quy định, nhưng Nghị định hướng dẫn lại trao thẩm quyền này cho Chấp hành viên thì ở một góc độ nhất định, có thể coi đây là một sự “vượt rào” về mặt thẩm quyền.

Từ những lý do trên, chúng tôi cho rằng Nghị định số 50 cần được sửa đổi để bỏ nội dung quy định tại Điều 33 về sử dụng công cụ hỗ trợ của Chấp hành viên trong thi hành án; Đồng thời, Thông tư liên tịch số 05/2006/TTLT-BTP-BCA ngày 29.8.2006 về hướng dẫn việc trang bị, quản lý và sử dụng công cụ hỗ trợ của cơ quan thi hành án dân sự cũng cần được xem xét lại về tính cần thiết. Ngoài ra, những nội dung có liên quan trong Nghị định số 47/CP của Chính phủ về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ cũng cần được xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Nguồn: Đại biểu nhân dân

90

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan