Những nội dung cơ bản của Luật Trọng tài thương mại

Luật Trọng tài thương mại được QH thông qua ngày 17.6.2010, gồm 13 chương và 82 điều, với những nội dung chủ yếu như sau:

Về phạm vi thẩm quyền của Trọng tài thương mại

Thẩm quyền của Trọng tài thương mại gồm: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.

Theo cách xác định thẩm quyền nêu trên của Trọng tài thương mại, phạm vi điều chỉnh của pháp luật trọng tài được giới hạn trong các giao dịch thương mại của thương nhân trên cơ sở khái niệm thương mại quy định tại Luật Thương mại 2005.

Về các hình thức trọng tài

Trọng tài có 2 hình thức hoạt động là Trọng tài Quy chế và Trọng tài vụ việc. Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật này và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó. Trọng tài vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự, thủ tục do các bên thoả thuận.

Về trọng tài viên

Kế thừa Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 tại Điều 17, Luật Trọng tài thương mại vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm tạo định hướng đúng đắn cho việc hình thành và phát triển ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và có uy tín xã hội. Theo đó cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế công tác từ năm năm trở lên có thể là trọng tài viên. Đặc biệt, Luật bổ sung quy định mới dành cho các Trung tâm trọng tài quyền được đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn đối với các Trọng tài viên trong danh sách của mình.

Mối quan hệ giữa Trọng tài và Tòa án, Viện Kiểm sát, cơ quan Thi hành án

Một trong những tâm điểm quan trọng nhất của Luật Trọng tài thương mại là vấn đề về mối quan hệ giữa Trọng tài với Tòa án, Viện kiểm sát, Thi hành án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên. Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng này. Theo đó, thẩm quyền của Tòa án được ghi nhận tại Điều 7, và tại một số điều khác đã ghi nhận những trường hợp hỗ trợ cụ thể của Tòa án đối với Trọng tài. Thẩm quyền của Viện kiểm sát được quy định tại các Điều 46 về thu thập chứng cứ, Điều 47 về triệu tập người làm chứng, Điều 53 về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Điều 71 về huỷ phán quyết Trọng tài. Và thẩm quyền của cơ quan Thi hành án cũng đã được quy định tại Điều 8 của Luật.

Tính xác định và rõ ràng của những quy định mới trên đây của Luật Trọng tài thương mại sẽ tạo điều kiện để các Cơ quan Tư pháp và Hội đồng trọng tài cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng trong các trường hợp cụ thể. Và đó chính là điều kiện thuận lợi để Trọng tài hoạt động có hiệu quả.

Quản lý nhà nước về Trọng tài

Quy định liên quan đến Quản lý nhà nước về Trọng tài được nêu tại Điều 15 của Luật. Theo đó, tổ chức trọng tài thương mại không phải là doanh nghiệp nên thủ tục thành lập, đăng ký hoạt động khác với thủ tục đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Tổ chức trọng tài thương mại là tổ chức xã hội- nghề nghiệp nên việc thành lập phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi được phép thành lập, tổ chức trọng tài thương mại phải đăng ký hoạt động. Như vậy, việc cấp giấy phép thành lập và đăng ký hoạt động của tổ chức trọng tài đã được quy định rất rõ trong Luật. Theo đó, xuất phát từ tính chất của tổ chức trọng tài việc cấp giấy phép thành lập thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp và trên cơ sở giấy phép cho thành lập tổ chức trọng tài, Sở Tư pháp có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động cho các tổ chức trọng tài.

Nguồn: Đại biểu nhân dân

127

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan