Nội dung cơ bản của Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015

Ban biên tập xin giới thiệu bài giảng của Giáo sư, Tiến sĩ, Trung tướng Nguyễn Ngọc Anh, Cục trưởng Cục pháp chế và cải cách hành chính, Bộ Công an về nội dung cơ bản của "Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự" được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10

1. Về quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật.

Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự 2015 được xây dựng trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau đây:

Thứ nhất, quán triệt, thể chế hóa chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra hình sự;

Thứ hai, cụ thế hóa Hiến pháp 2013, đồng thời đảm bảosự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật;

Thứ ba, trên cơ sở tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2004 và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Mặt khác, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn tổ chức điều tra hình sự của một số nước phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Thứ tư, nhằm bảo đảm trong hoạt động điều tra hình scóự hiệu lực, hiệu quả; phân công, phân cấp rành mạch và được kiểm soát chặt chẽ.

2. Những nội dung mới cơ bản của Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự

Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự gồm 10 chương, 73 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2015.

Về những quy định chung gồm 14 điều (Điều 1 đến Điều 14) quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự, hệ thống Cơ quan điều tra chuyên trách, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và đặc biệt việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức cá nhân trong hoạt động điều tra… Đặc biệt là các hành vi bị nghiêm cấm.

Trong Chương này cần chú ý một số điểm như sau:

– Đối tượng áp dụng.

Tại khoản 2 Điều 2 đã bổ sung thêm đối tượng cán bộ điều tra. Quy định này cần được hiểu theo nghĩa rộng, đó là, bên cạnh cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra là chức danh tư pháp còn có “cán bộ điều tra” khác do Thủ trưởng hoặc do Phó Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phân công.

Khoản 3 Điều 2 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan”. Ở đây, cá nhân có thể là người nước ngoài trên lãnh thổ của Việt Nam.

– Về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự (Điều 3).

+ Kế thừa những nguyên tắc trong Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2006, 2009) và các văn bản quy phạm pháp luật khác, tham khảo quy định về các nguyên tắc trong BLTTHS, các đạo luật khác có liên quan, đó là: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; phân công, phân cấp rành mạch, chuyên sâu, tránh chồng chéo và được kiểm soát chặt chẽ; điều tra kịp thời, nhanh chóng, chính xác, khách quan, toàn diện, đầy đủ, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội…

– Về hệ thống cơ quan điều tra (Điều 4):

Khoản 1 đã thay đổi từ “Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân” thành “Cơ quan điều tra của Công an nhân dân”.

Dựa vào lý luận phân công, phân cấp, phân quyền, thẩm quyền điều tra. Trước hết là thẩm quyền theo địa giới hành chính – tội phạm xảy ra ở đâu, cơ quan điều tra ở đó; thứ hai là theo lĩnh vực hoạt động; thứ ba là theo tội danh; thứ tư là theo đối tượng phạm tội.

Đối với Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện tổng hợp thẩm quyền trên các lĩnh vực, còn cơ quan điều tra của Công an nhân dân phân cấp rõ hơn. Tuy nhiên, sự phân công, phân cấp có những thời điểm chỉ mang tính tương đối.

– Về nhiệm vụ của Cơ quan điều tra (Điều 8)

+ Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đây là đầu vào nên VKS tới đây cần kiểm sát thật chặt chẽ để đảm bảo mọi tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố vụ án phải được tiếp nhận và xử lý theo đúng trình tự quy định của pháp luật, đúng thời hạn, đảm bảo các yêu cầu.

+ Tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao;

+ Tiến hành điều tra các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật định để phát hiện, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; lập hồ sơ, đề nghị truy tố.

+ Tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

Đặc biệt chú ý nhiệm vụ phòng ngừa, thông qua việc tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội, kiến nghị các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục, phòng ngừa. Đây là vấn đề mà thời gian tới cần tập trung nghiên cứu, chỉ đạo, yêu cầu phải đề cập trong bản kết luận điều tra, trong cáo trạng…

– Về các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 9):

Để đảm bảo tính khả thi và đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác điều tra hình sự, quy định về tổ chức quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được điều chỉnh cho phù hợp, cụ thể như sau:

– Tinh gọn đầu mối theo hướng, không quy định Trại tạm giam, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp, Cảnh sát quản lý hành chính là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

– Bổ sung quy định về Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (cấp bộ), Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao (cấp tỉnh), Kiểm ngư là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để tạo cơ sở pháp lý cho lực lượng này làm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao và tội phạm trên biển trong tình hình hiện nay.

– Về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 10)

– Theo quy định của pháp luật hiện hành thì các cơ quan này được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo thẩm quyền nhưng không quy định các cơ quan này có nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Do đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các cơ quan này chỉ tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm (có dấu hiệu của tội phạm) thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan mình nhưng lại không được giải quyết mà phải chuyển đến CQĐT để giải quyết.

Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã khắc phục bất cập nêu trên; đã quy định các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và BLTTHS.

Một điểm mới nữa: Luật quy định thời hạn điều tra đối với tội phạm quả tang, ít nghiêm trọng, chứng cứ rõ ràng do Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư điều tra theo thẩm quyền từ 20 ngày thành 01 tháng để đảm bảo tính khả thi. Loại thứ hai có một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong thời hạn có 7 ngày (các cơ quan khác trong Công an, Quân đội).

– Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra (Điều 11)

Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự tiếp tục kế thừa các quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra trong Pháp lệnh tổ chức cơ quan điều tra 2004, có một số điều chỉnh cho phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, cụ thể như sau:

Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật này; phát hiện kịp thời và yêu cầu, kiến nghị Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra.

Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật.

– Về những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 14)

Khoản 2 Điều 14 đã nội luật hóa tên gọi cũng như một số từ ngữ của Công ước chống tra tấn. Đây là một trong những bước tiến rất quan trọng, quy định lại những tội này trong BLHS cho phù hợp với mức hình phạt, diễn tả, mô tả hành vi khách quan của nhóm tội này cho phù hợp hơn với công ước quốc tế. Đây là những tiêu chí bắt buộc tất cả những người tham gia tố tụng phải tránh xa tất cả những điều cấm này.

Trong Chương II: Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ quyền hạn điều tra của Cơ quan điều tra của Công an nhân dân (3 điều từ Điều 15 đến Điều 17). Cơ bản vẫn giữ như trước đây.

– Riêng cơ quan An ninh điều tra có một số quy định mới, cụ thể như sau: Bổ sung thẩm quyền điều tra các tội khủng bố; mặt khác để bảo đảm tính linh hoạt, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bổ sung quy định Cơ quan An ninh điều tra Công an nhân dân có thẩm quyền tiến hành điều tra vụ án hình sự về tội phạm khác liên quan đến an ninh quốc gia hoặc trong trường hợp để bảo đảm khách quan theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Công an.

– Tổ chức bộ máy của Cơ quan Cảnh sát điều tra có một số vấn đề cần lưu ý: Hợp nhất Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ thành Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ; Phòng Cảnh sát điều tra về tham nhũng, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ thành Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ; bổ sung Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu (cấp bộ), Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu (cấp tỉnh).

– Cơ quan Cảnh sát điều tra công an cấp huyện: Đã đổi bộ phận giúp việc thành Đội điều tra tổng hợp.

Chương III. Về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân:

So với Pháp lệnh tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2004, Luật tổ chức cơ quan điều tra đã bổ sung quyền điều tra đối với các tội phạm quy định tại các điều 193, 207, 208, 282, 283, 284, 299, 300, 303, 304, 305, 309, 337, 338, 347, 348, 349 và 350 của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cho Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương trong Quân đội nhân dân để đảm bảo phù hợp với thẩm quyền điều tra của Cơ quan an ninh điều tra của Công an nhân dân.

Chương IV. Về Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Tổ chức bộ máy của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 29)

Luật tổ chức cơ quan điều tra quy định cụ thể Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có các phòng điều tra và bộ máy giúp việc; Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương gồm có Ban điều tra và bộ phận giúp việc. So với Pháp lệnh năm 2004, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương gồm có Ban điều tra thay vì “bộ phận điều tra”.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 30)

Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có 5 nhóm nhiệm vụ cơ bản sau:

– Tổ chức công tác trực ban hình sự, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; phân loại và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

– Tiến hành điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân.

– Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm.

– Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tội phạm thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

– Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm mới đáng lưu ý trong quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự đó là: trước đây Pháp lệnh năm 2004 quy định: “Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra các vụ án hình sự về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân”, nhưng không có quy định cụ thể “một số tội xâm phạm hoạt động tư pháp” là những tội nào, các cơ quan nào là cơ quan tư pháp, do đó gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng như Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương. Khắc phục bất cập này, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân.

Điều này cũng bảo đảm đồng bộ với quy định tại Điều 20 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, theo đó khi người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp trong khi tiến hành hoạt động tư pháp theo quy định của Luật này và các luật khác có liên quan mà phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ thì thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương (Điều 31)

Luật quy định Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương có 5 nhóm nhiệm vụ cơ bản sau:

– Tổ chức công tác trực ban hình sự, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; phân loại và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

– Tiến hành điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật này khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

– Kiến nghị với cơ quan, tổ chức áp dụng các biện pháp khắc phục nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm.

– Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tội phạm thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.

– Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chương VI. Về quan hệ phân công và phối hợp trong hoạt động điều tra hình sự

Quan hệ giữa cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 40)

So với Pháp lệnh năm 2004, các quy định về quan hệ giữa các cơ quan điều tra, giữa Cơ quan điều tra với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự cơ bản vẫn giữ nguyên như pháp lệnh năm 2004, chỉ có 02 điểm mới: (1) khẳng định trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra của cơ quan điều tra đối với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (2) khẳng định việc tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao theo thẩm quyền và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã chuyển giao hồ sơ vụ án là trách nhiệm của cơ quan điều tra.

Quan hệ giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát (Điều 42)

Đây là một quy định mới so với Pháp lệnh năm 2004, nhằm giải quyết những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, bảo đảm yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa đơn vị điều tra với đơn vị trinh sát trong phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử lý và phòng ngừa tội phạm.

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Công an cấp cơ sở, Luật cũng đã bổ sung Điều 44 quy định về trách nhiệm của công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an trong hoạt động điều tra hình sự theo hướng phân biệt rõ trách nhiệm của Công an xã với Công an phường, thị trấn, đồn Công an phù hợp với thực tiễn, cũng như trình độ cán bộ, điều kiện cơ sở vật chất của các cơ quan, đơn vị này.

Chương VII. Về Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên và cán bộ điều tra
Để phù hợp với xu thế chung về tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, đặc biệt là việc bổ nhiệm các chức danh tư pháp khác như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã bỏ cơ chế bổ nhiệm Điều tra viên qua tuyển chọn theo Pháp lệnh năm 2004 và thay bằng cơ chế thi tuyển Điều tra viên. Quy định theo hướng này sẽ buộc Điều tra viên sẽ phải không ngừng nâng trình độ để đáp ứng yêu cầu công tác. (Điều 55).

Quy định về nhiệm kỳ của Điều tra viên theo hướng kéo dài thời hạn trong trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng bậc là 10 năm.

Cán bộ điều tra (Điều 59)

Đây là quy định mới của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Cán bộ điều tra được hiểu là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực điều tra hình sự, giúp Điều tra viên, Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện một số hoạt động điều tra hình sự.

Quy định về chức danh Cán bộ điều tra là rất cần thiết. Vì để được bổ nhiệm Điều tra viên phải có thời gian làm công tác pháp luật nhất định (4 năm) và có khả năng làm công tác điều tra hình sự; vì vậy, cần bố trí cán bộ giúp việc cho Điều tra viên để họ có quá trình tiếp xúc, thực hiện các yêu cầu công việc trong quá trình điều tra để học việc nhằm tạo nguồn bổ nhiệm Điều tra viên, đặc biệt là đối với một số hoạt động điều tra đơn giản như giúp Điều tra viên lấy lý lịch bị can, chụp ảnh bị can, lập danh bản, chỉ bản, lập hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, hồ sơ vụ án… không cần thiết phải do Điều tra viên thực hiện. Thực tiễn đã cho thấy, cán bộ điều tra ở các Cơ quan điều tra đã giúp Điều tra viên giải quyết các vụ án được nhanh chóng, thuận lợi. Việc bổ sung chức danh Cán bộ điều tra cũng phù hợp với quy định về chức danh Kiểm tra viên (giúp việc cho Kiểm sát viên) trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Thẩm tra viên (giúp việc cho Thẩm phán) trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Chương IX. Về Trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác điều tra hình sự

Được quy định cụ thể tại Chương IX nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự 2004.

Nguồn: Kiểm sát Online

186

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan