Nữ vẫn là chủ thể của tội hiếp dâm theo BLHS năm 2015

Từ ngày 01/1/2018, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự 2015); Bộ luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH15 sẽ chính thức có hiệu lực thi hành.

Trước đến nay, nhiều người có thói quen nghĩ rằng những tội xâm phạm nhân phẩm con người như hiếp dâm, cưỡng dâm, dâm ô … thì người bị hại phải là nữ giới, chủ thể phạm tội phải là nam giới.

Tuy nhiên, đó chỉ là cách nhìn nhận dựa vào giới tính sinh học của nam giới, trong khi đó, ở nhiều nước phương Tây, việc Tòa án đem ra xét xử các bị cáo là nữ giới về loại tội danh vừa nêu là điều bình thường.

Trở lại với quy định của BLHS 1999, khoản 1, Điều 111, quy định về tội hiếp dâm như sau: “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Như đã viện dẫn, điều luật mô tả “người nào”, có nghĩa là không phân biệt giới tính, chỉ cần người đó có hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ”, thì bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về mặt định tội danh, khả năng để phụ nữ trở thành chủ thể của tội hiếp dâm có thể được đặt ra trong các trường hợp sau đây:

Một là, theo khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống, việc phụ nữ dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nam giới để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của họ là điều khó có thể xảy ra. Trong thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, hiện nay hành vi dùng “thủ đoạn khác” để giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ có thể là hành vi được thực hiện bởi nữ giới. Ví dụ: cho uống thuốc kích dục, v.v… Do đó, không thể loại trừ khả năng này trên thực tế và hành vi người nữ giới dùng “thủ đoạn khác” giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của nạn nhân thì có thể coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Hai là, phụ nữ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trong trường hợp đồng phạm. Dù không phải là người thực hành (chủ thể phổ biến là nam giới), thì phụ nữ cũng có thể bị coi là phạm tội nếu có hành vi cố ý cùng thực hiện tội hiếp dâm với người thực hành. Cụ thể, phụ nữ có thể là người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức (khoản 1, khoản 2, Điều 20 BLHS 1999).

Trước đó, như báo zing.vn đưa tin, TAND tỉnh Tây Ninh đã tuyên phạt Đặng Lý Tưởng (24 tuổi) 14 năm tù, Phạm Thị Huyền (18 tuổi) 7 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em khi Huyền nghĩ ra cách đền bù cho chồng bằng… trinh tiết của đứa em gái mới 8 tuổi của mình là H.

Theo Điều 20 Bộ luật Hình sự 1999 “Đồng phạm là trường hợp 2 người trở lên cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội. Người tổ chức, người trực tiếp phạm tội, người xúi giục hay giúp sức đều là đồng phạm”. Vì thế, trong vụ án này, bị cáo Huyền tuy không trực tiếp hiếp dâm em gái nhưng đã có hành vi giúp sức, xúi giục “yêu râu xanh” phạm tội nên vẫn bị xử lý về tội Hiếp dâm.

Khoản 1 Điều 141. Tội hiếp dâm – Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này đã rõ ràng, xong vẫn còn tâm lý suy nghĩ “nữ là phái yếu, không thể hiếp dâm” nên hiện tại trong xã hội vẫn còn hai luồng quan điểm trái chiều nhau (một bên cho rằng nữ cũng là chủ thể của tội hiếp dâm; một bên cho rằng nữ không thể là chủ thể của tội hiếp dâm, trừ trường hợp đồng phạm). Vì vậy, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn, dù nam hay nữ vẫn là chủ thể của tội hiếp dâm để phù hợp với thực tiễn pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật thế giới.

Nguồn: Kiểm sát Online

126

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan