Quản lý, thanh toán vốn đầu tư ngân sách

Thông tư số 08/2016/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 3 năm 2016 thay thế các nội dung quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011.

Vốn ngân sách Nhà nước cần được sử dụng chặt chẽ, hiệu quả

Tổng hợp qua một số điểm mới của Thông tư 08/2016/TT-BTC như sau:

Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, Thông tư này quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư của các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước (bao gồm vốn đầu tư của ngân sách trung ương cho Bộ, ngành trung ương; vốn bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho địa phương; vốn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương); các dự án đầu tư sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau, trong đó có sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước thì phần nguồn vốn ngân sách Nhà nước của dự án được thực hiện theo quy định tại Thông tư này.

Về quy định mức tạm ứng vốn, Thông tư có sự điều chỉnh về mức tạm ứng vốn đối với Hợp đồng tư vấn:

+ Hợp đồng có giá trị trên 10 tỷ đồng, mức vốn tạm ứng tối thiểu bằng 15% giá trị hợp đồng;

+ Hợp đồng có giá trị đến 10 tỷ đồng, mức vốn tạm ứng tối thiểu bằng 20% giá trị hợp đồng (Thông tư 86/2011/TT-BTC quy định chung mức tạm ứng tối thiểu đối với hợp đồng tư vấn là 25% giá trị hợp đồng).

- Mức tạm ứng vốn đối với các loại hợp đồng khác được giữ nguyên theo TT 86/2011/TT-BTC.

- Ngoài ra Thông tư cũng bổ sung thêm quy định mới về mức tạm ứng đối với chi phí quản lý dự án (Thông tư 86/2011/TT- BTC không quy định nội dung này): Căn cứ dự toán chi phí quản lý dự án trong năm kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Kho bạc Nhà nước thực hiện tạm ứng vốn theo đề nghị của chủ đầu tư. Mức tạm ứng vốn không vượt quá dự toán chi phí quản lý dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Về bảo lãnh tạm ứng vốn đối với hoạt động bảo lãnh tạm ứng vốn Thông tư 86/2011/TT-BTC chỉ quy định, trường hợp trong hợp đồng chủ đầu tư và nhà thầu thoả thuận có bảo lãnh tiền tạm ứng thì nhà thầu phải có bảo lãnh khoản tiền tạm ứng.

Tại thông tư số 08/2016/TT-BTC quy định cụ thể đối với các hợp đồng có giá trị tạm ứng hợp đồng lớn hơn 01 tỷ đồng yêu cầu bắt buộc phải có bảo lãnh tạm ứng trước khi Kho bạc thực hiện tạm ứng hợp đồng.

Ngoài ra các trường hợp không yêu cầu bảo lãnh tạm ứng khi:

 + Các hợp đồng có giá trị tạm ứng hợp đồng nhỏ hơn hoặc bằng 01 tỷ đồng.

+ Các hợp đồng xây dựng theo hình thức tự thực hiện bao gồm cả hình thức do cộng đồng dân cư thực hiện theo các chương trình mục tiêu;

+ Các công việc thực hiện không thông qua hợp đồng và công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (trừ trường hợp công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải xây dựng các công trình). 

Về thu hồi vốn tạm ứng, Thông tư quy định cụ thể đối với chi phí quản lý dự án: chủ đầu tư lập Bảng kê giá trị khối lượng công việc hoàn thành (Phụ lục số 03.a) gửi Kho bạc Nhà nước làm thủ tục thu hồi vốn tạm ứng.

Chủ đầu tư không phải gửi chứng từ chi, hóa đơn mua sắm đến Kho bạc Nhà nước và chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của khối lượng và giá trị đề nghị thanh toán theo dự toán được duyệt.

- Đối với các công việc của dự án thực hiện theo hợp đồng: Vốn tạm ứng chưa thu hồi nếu quá thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm phải thực hiện khối lượng theo tiến độ ghi trong hợp đồng mà nhà thầu chưa thực hiện hoặc sử dụng sai mục đích, chủ đầu tư có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Kho bạc Nhà nước để thu hồi hoàn trả vốn đã tạm ứng cho ngân sách nhà nước.

 Trường hợp chủ đầu tư chưa thu hồi và không có báo cáo đánh giá tình hình thực hiện và thu hồi tạm ứng vốn, Kho bạc Nhà nước có văn bản đề nghị chủ đầu tư thu hồi của nhà thầu hoặc đề nghị chủ đầu tư yêu cầu tổ chức tín dụng phát hành bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi nhà thầu vi phạm cam kết với chủ đầu tư về việc sử dụng vốn tạm ứng.

- Đối với công việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Vốn tạm ứng chưa thu hồi nếu quá thời hạn 3 tháng kể từ thời điểm tạm ứng vốn chưa thực hiện chi trả cho người thụ hưởng, chủ đầu tư có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Kho bạc Nhà nước yêu cầu tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường hỗ trợ và tái định cư chuyển toàn bộ số tiền đã tạm ứng về tài khoản tiền gửi của chủ đầu tư tại Kho bạc Nhà nước để thuận tiện cho việc kiểm soát thanh toán và thu hồi tạm ứng.

 Trường hợp sau thời hạn 1 năm kể từ ngày chuyển tiền về tài khoản tiền gửi của chủ đầu tư mà chưa thực hiện chi trả cho người thụ hưởng, chủ đầu tư có trách nhiệm hoàn trả vốn đã tạm ứng cho ngân sách nhà nước. Trường hợp chủ đầu tư không làm thủ tục nộp ngân sách Nhà nước, thì Kho bạc Nhà nước được phép trích từ tài khoản tiền gửi của chủ đầu tư để nộp lại ngân sách Nhà nước, giảm số vốn đã tạm ứng cho dự án và thông báo cho chủ đầu tư.

Về thanh toán khối lượng hoàn thành các công việc thực hiện thông qua hợp đồng xây dựng:

- Thông tư quy định thanh toán khối lượng hoàn thành đối với 05 loại hợp đồng (Thông tư 86/2011/TT-BTC quy định 06 loại) bao gồm:

+ Hợp đồng trọn gói

+ Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh

+ Hợp đồng theo đơn giá cố định

+ Hợp đồng theo thời gian

+ Hợp đồng theo đơn giá kết hợp

- Đối với khối lượng công việc phát sinh (ngoài hợp đồng) chưa có đơn giá trong hợp đồng, thực hiện theo thỏa thuận bổ sung hợp đồng mà các bên đã thống nhất trước khi thực hiện và phải phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật có liên quan. (Thông tư 86/2011/TT-BTC quy định chi tiết đối với phần công việc phát sinh thì chủ đầu tư và nhà thầu phải ký phụ lục bổ sung hợp đồng theo nguyên tắc cụ thể).

Về hồ sơ thanh toán khối lượng hoàn thành: Điểm mới của Thông tư 08/2016 là ngoài các thủ tục quy định tại thông tư 86/2011/TT-BTC hồ sơ thanh toán theo quy định mới chủ đầu tư phải gửi kèm: Biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng.

Về thời hạn kiểm soát thanh toán vốn của Kho bạc Nhà nước: Thông tư quy định Kho bạc Nhà nước kiểm soát, thanh toán cho dự án và thu hồi vốn tạm ứng theo quy định trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ thanh toán theo quy định của chủ đầu tư (Thông tư 86/2011/TT-BTC quy định trong thời hạn 07 ngày làm việc đối với trường hợp “kiểm soát trước, thanh toán sau” và trong 03 ngày làm việc đối với trường hợp “thanh toán trước, kiểm soát sau”).

Nguồn: Báo Nông nghiệp

116

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan