Quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án

Theo quy định tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP vừa được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 được thực hiện như sau:

Người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 không quy định căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, vì vậy, tòa án không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp kể từ ngày 1-1-2012, tòa án trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết và thời hạn giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện đã hết mà đương sự có yêu cầu khởi kiện lại vụ án đó thì tòa án xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.

Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật “quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 là các trường hợp trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 chưa quy định nhưng đã được quy định trong nghị quyết này, các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” quy định trong nghị quyết này là:

Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 1-1-2017, tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do “thời hiệu khởi kiện đã hết” nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 1-1-2017 đã được tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó.

Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 1-1-2017 tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi kiện chia tài sản chung, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 1-1-2017 đã được tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó.

Nguồn: Báo Bình Phước

120

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan