Tiếp thu, chỉnh lý 17 nội dung trong dự thảo BLTTDS sửa đổi

Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết, 17 nội dung đã được tiếp thu, chỉnh lý trong dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi). Dự thảo Bộ luật trình lên Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XIII, gồm 10 phần, 41 chương, 509 điều.

Tòa không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng

Báo cáo Giải trình, tiếp thu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) sửa đổi cho hay, về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (các điều 4, 43, 44 và 45), đa số ý kiến nhất trí với dự thảo sửa đổi. Theo đó, Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

UBTVQH nhận thấy, việc mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân (TAND) như quy định tại khoản 2 Điều 4 của dự thảo Bộ luật là bước chuyển quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về chức năng, nhiệm vụ của TAND là “cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (khoản 1 Điều 102) và kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới. Trong khi pháp luật dân sự chưa có quy định đầy đủ để điều chỉnh được hết các quan hệ xã hội, khi có tranh chấp dân sự xảy ra mà chưa có điều luật áp dụng, cần thiết phải có quy định cho phép Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, tập quán, tương tự pháp luật, án lệ và lẽ công bằng để thụ lý vụ việc dân sự và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự chung do Bộ luật này quy định.

Để bảo đảm tính khả thi, UBTVQH chỉ đạo chỉnh lý, bổ sung các quy định về giải quyết các vụ việc dân sự, trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng tại các điều 4, 43, 44 và 45 của dự thảo Bộ luật. Quy định như vậy là phù hợp với nội dung tại các điều 5,6 và 14 của dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi). Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện nguyên tắc “thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

Tuy nhiê, cũng có ý kiến cho rằng, đây là vấn đề mới, cần nghiên cứu hết sức thận trọng để bảo đảm phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, quy định này chủ yếu được áp dụng ở các nước nơi mà Tòa án có quyền giải thích luật và án lệ là nguồn luật. Còn ở nước ta, án lệ không phải là nguồn luật. TAND xét xử các vụ án, giải quyết các vụ việc trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự

UBTVQH cho biết: Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 của Hiến pháp năm 2013, Viện Kiểm sát nhân dân(VKSND) thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND; nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật được quy định tại Điều 4 và Điều 27 của Luật Tổ chức VKSND năm 2014. Vì vậy, UBTVQH đề nghị tiếp tục xác định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự như quy định tại Điều 39 của BLTTDS hiện hành và dự thảo BLTTDS (sửa đổi) trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 9. Dự thảo Bộ luật được thể hiện tại các điều 46, 57 và 58.

Tuy nhiên, qua thảo luận, có ý kiến trong UBTVQH cho rằng, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014, cần xác định lại vị trí của VKSND trong tố tụng dân sự là cơ quan kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự với lý do: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã bỏ quy định về quyền khởi tố vụ án dân sự của VKSND mà trước đây Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 có quy định. Hiện hành chỉ quy định VKSND có quyền kiến nghị khởi kiện vụ án dân sự. Vì vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, VKSND không thực hành quyền công tố, không khởi tố vụ án dân sự, không chủ trì thực hiện bất kỳ một giai đoạn tố tụng dân sự nào như TAND (cụ thể: thụ lý vụ án, lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, hòa giải, ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án, trưng cầu giám định…), mà chỉ kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng dân sự, thể hiện rõ được cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp năm 2013 giữa TAND và VKSND.

UBTVQH thấy rằng, quy định về việc phát biểu quan điểm của VKSND tại phiên tòa, phiên họp cần căn cứ vào quyền hạn, nhiệm vụ của VKSND theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014.

Để bảo đảm tính thống nhất với quy định của Luật Tổ chức VKSND, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và quy định của Hiến pháp năm 2013, UBTVQH đề nghị tiếp thu, chỉnh lý lại như quy định tại Điều 262 của dự thảo BLTTDS (sửa đổi) như sau:

“Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.”

Về thẩm quyền xác minh, thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát, UBTVQH thấy rằng, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, trong tố tụng dân sự, VKSND là cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND không thực hành quyền công tố, không khởi tố vụ việc dân sự, không chủ trì thực hiện bất kỳ một giai đoạn tố tụng dân sự nào như TAND nên việc quy định VKSND thu thập chứng cứ là không phù hợp, mâu thuẫn với nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự trong tố tụng dân sự và trách nhiệm của TAND hỗ trợ các đương sự tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự trong các trường hợp do BLTTDS quy định. Vì vậy, UBTVQH xin giữ như quy định của dự thảo Bộ luật.

Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

Nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tán thành và đề nghị, cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.

Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo chỉnh lý các điều luật để thể hiện nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Các chủ thể trong quan hệ tố tụng dân sự đều có quyền và nghĩa vụ thực hiện hoặc bảo đảm thực hiện tranh tụng.

Điều 24 quy định về nguyên tắc chung bảo đảm tranh tụng trong xét xử: Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng, tranh luận trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.

Về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự (từ Điều 316 đến Điều 321), UBTVQH chỉ đạo chỉnh lý theo hướng, quy định những vụ án được lựa chọn để giải quyết theo thủ tục rút gọn phải bảo đảm được điều kiện là vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, đủ cơ sở giải quyết, Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài.

Dự thảo BLTTDS sửa đổi thảo tiếp tục được các đại biểu Quốc hội thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau. Sau đó, dự thảo được tiếp thu, chỉnh lý lần cuối để có thể thông qua vào ngày 25-11 tới.

Nguồn: Nhân dân điện tử

90

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan