Tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh

Ngày 15/10/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 93/2015/NĐ-CP về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.

Theo Nghị định, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh là doanh nghiệp nhà nước được thành lập hoặc tổ chức lại để thực hiện các nhiệm vụ mang tính ổn định, thường xuyên trong những ngành, lĩnh vực, địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc bảo đảm bí mật và an ninh quốc gia.

Căn cứ vào quy mô và đặc thù hoạt động của doanh nghiệp, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quyết định áp dụng cơ cấu tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Kiểm soát viên (Ban Kiểm soát) hoặc theo mô hình Chủ tịch công ty, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Kiểm soát viên (Ban Kiểm soát). Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh hoạt động trong các ngành, lĩnh vực đặc biệt.

Về chế độ báo cáo, công bố thông tin và kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, Nghị định quy định trước ngày 20 tháng 6 hằng năm, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh phải công bố trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Kế hoạch và Đầu tư những thông tin sau: Tên gọi, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật; Lịch sử hoạt động của doanh nghiệp, các mục tiêu phát triển dài hạn, kết quả thực hiện mục tiêu trong năm và mục tiêu phấn đấu năm sau; Báo cáo các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu (doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước, vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ) năm trước liền kề; Kế hoạch, kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp (nếu có); Danh sách các công ty do doanh nghiệp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; Thu nhập bình quân người lao động.

Đối với các nội dung không thể công khai do bí mật quốc phòng, an ninh,doanh nghiệp quốc phòng, an ninh phải gửi các nội dung này cho cơ quan đại diện chủ sở hữu. Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm tổng hợp và gửi các thông tin này cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để theo dõi, có ý kiến (trước ngày 31 tháng 8 hằng năm) hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp cần thiết.

Trước ngày 30 tháng 4 hằng năm, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an lập kế hoạch, nội dung, đối tượng kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh do mình quản lý và gửi tới Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để phối hợp triển khai.

Trước ngày 30 tháng 6 hằng năm, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an báo cáo Thủ tướng Chính phủ và gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính báo cáo về tình hình hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh trong năm trước liền kề.

Hằng năm, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao kế hoạch sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cho doanh nghiệp. Văn bản giao kế hoạch sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là căn cứ để doanh nghiệp được xem xét công nhận là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2015, thay thế Nghị định số 104/2010/NĐ-CP ngày 11/10/2010 của Chính phủ về tổ chức, quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.

Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận doanh nghiệp quốc phòng, an ninh. Định kỳ 03 năm một lần, Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận lại doanh nghiệp quốc phòng, an ninh. Theo Nghị định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thẩm định công nhận, công nhận lại doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định./.

Minh Hậu
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư

107

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan