Ưu đãi thuế nhập khẩu linh kiện ô tô thân thiện môi trường

Các doanh nghiệp (DN) lắp ráp xe trong nước đang gặp khó khăn, minh chứng là số lượng xe nhập khẩu (NK) tăng đột biến gần đây.

Nhiều DN đã ứng dụng công nghệ hiện đại trong lắp ráp ô tô. Ảnh: Thaco

Do đó, Bộ Tài chính đề xuất áp dụng ưu đãi thuế đối với vật tư, linh kiện NK các loại xe thân thiện với môi trường để lắp ráp xe trong nước, hỗ trợ DN phát triển sản xuất và tạo việc làm cho người lao động.

Bộ Tài chính vừa hoàn thiện và gửi xin ý kiến cho dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 125/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 122/2016/NĐ-CP của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế NK ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế NK ngoài hạn ngạch thuế quan. Theo đó, sẽ thực hiện ưu đãi thuế NK 0% đối với linh kiện ô tô NK theo Chương trình ưu đãi thuế để sản xuất, lắp ráp xe ô tô thân thiện môi trường.

Xe NK tăng đột biến, DN lắp ráp xe thu hẹp thị phần

Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) năm 2018, cam kết giảm dần thuế NK ô tô nguyên chiếc về 0% sau 7 - 9 năm. Mới đây, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) cũng cam kết giảm dần thuế NK ô tô nguyên chiếc về 0% sau 9 - 10 năm. Hiện nay, thuế NK ô tô từ các nước khu vực ASEAN đã giảm xuống còn 0% (mức thuế 0% bắt đầu áp dụng từ năm 2018). Như vậy, tới năm 2030 thị trường ô tô Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn cho các trung tâm sản xuất ô tô lớn trên thế giới bao gồm: ASEAN, Nhật Bản, Mexico và EU. 

Năm 2018, lượng xe ô tô NK chưa nhiều và có xu hướng giảm do xe NK phải đáp ứng quy định tại Nghị định số 116/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định điều kiện sản xuất, lắp ráp, NK và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều DN NK đã đáp ứng được quy định nên trong 6 tháng đầu năm 2019, số lượng xe ô tô NK tăng đột biến so với cùng kỳ năm 2018  và về cuối năm đang có xu hướng tăng. Điều này có nghĩa đã thu hẹp thị phần của DN sản xuất, lắp ráp xe trong nước. Các DN sản xuất, lắp ráp xe sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn, trong bối cảnh hàng rào thuế quan và hàng rào kỹ thuật không còn. Các DN nước ngoài đang dần chuyển sang NK kinh doanh thương mại thay cho việc sản xuất, lắp ráp ô tô. Trước tình hình trên, Bộ Tài chính nhận thấy cần có chính sách kịp thời cho các DN sản xuất, lắp ráp ô tô để duy trì và phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động. 

Do đó, tại dự thảo nghị định, đối tượng được hưởng ưu đãi thuế là các DN có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp xe ô tô, do Bộ Công thương cấp, để sản xuất, lắp ráp xe ô tô thuộc các chủng loại xe ô tô sử dụng nhiên liệu xăng, dầu, xe ô tô chạy điện, xe ô tô sử dụng pin nhiên liệu, xe ô tô hybrid, xe ô tô sử dụng nhiên liệu sinh học hoàn toàn, xe ô tô sử dụng khí thiên nhiên.

Phải đáp ứng tiêu chí sản lượng xe lắp ráp

Tiêu chí về sản lượng xe ô tô lắp ráp được dự thảo nghị định quy định cụ thể và được các DN quan tâm. Theo đó, sản lượng chung tối thiểu là sản lượng áp dụng cho các chủng loại xe ô tô sản xuất, lắp ráp của một DN đăng ký tham gia chương trình ưu đãi thuế. Sản lượng riêng tối thiểu là sản lượng áp dụng cho các mẫu xe mà DN cam kết sản xuất, lắp ráp khi đăng ký tham gia chương trình ưu đãi. Trường hợp DN sản xuất, lắp ráp xe ô tô sử dụng nhiên liệu xăng, dầu và xe ô tô chạy điện, xe ô tô sử dụng pin nhiên liệu… đăng ký thêm 1 mẫu xe ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi chở xuống/xe minibuýt hoặc tối đa 2 mẫu xe buýt/xe khách/xe ô tô tải thuộc chủng loại xe ô tô nêu trên thì DN được cộng sản lượng của mẫu xe đăng ký thêm vào sản lượng riêng tối thiểu để xét ưu đãi thuế.

Theo bà Trần Thị Bích Ngọc - Trưởng phòng Chính sách thuế xuất nhập khẩu, Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính), một trong những điểm mới của dự thảo nghị định đó là quy định trường hợp tập đoàn, tổng công ty, công ty có quy mô vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng trở lên tham gia góp vốn (hoặc chiếm số cổ phần) trên 35% vào các công ty sản xuất, lắp ráp ô tô thì các công ty nhận vốn góp (hoặc chiếm số cổ phần) trên 35% không phải đáp ứng điều kiện về sản lượng khi xét điều kiện hưởng ưu đãi của chương trình cho thời gian còn lại. Việc áp dụng mức thuế suất 0% đối với các linh kiện NK để sản xuất, lắp ráp ô tô của mỗi DN phải tương ứng với sản lượng ô tô nguyên chiếc thực tế mà mỗi DN đã sản xuất, lắp ráp tại kỳ xét ưu đãi.

Về tiêu chí sản lượng chung và riêng đối với nhóm xe từ 9 chỗ trở xuống, dự thảo quy định: Sản lượng chung tối thiểu từ năm 2019 - 2022 là từ 8.500 - 13.500 chiếc; sản lượng riêng tối thiểu là của một mẫu xe cam kết là từ 3.500 - 5.000 chiếc. Quy định như vậy là do tỷ lệ tăng trưởng sản xuất, lắp ráp trong năm 2018 và 3 tháng 2019 của xe dưới 9 chỗ đã tăng gấp đôi so với tỷ lệ tăng trưởng dự kiến (16%). Tốc  độ tăng trưởng năm 2018 so với năm 2017 và 3 tháng đầu năm 2019 so với 3 tháng đầu năm 2018 của xe từ 9 chỗ trở xuống lần lượt tăng 31% và 34%. Kim ngạch NK năm 2018 của nhóm xe này tăng 38% so với năm 2017. Trong khi đó, tại Nghị định 125/2017/NĐ-CP quy định mức sản lượng nhóm xe từ 9 chỗ ngồi trở xuống theo tỷ lệ tăng trưởng là 16% từ năm 2020 trở đi.

Tốc  độ tăng trưởng năm 2018 so với năm 2017 và 3 tháng đầu năm 2019 so với 3 tháng đầu năm 2018 của xe từ 9 chỗ trở xuống lần lượt tăng 31% và 34%. Kim ngạch NK năm 2018 của nhóm xe này tăng 38% so với năm 2017.

Nguồn: Thời báo Tài chính Việt Nam Online

166

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan