Về việc thỏa thuận mức BTTH cố định trong HĐ: Câu trả lời còn dang dở

Trong các hợp đồng thương mại, thường có điều khoản quy định bên vi phạm nghĩa vụ phải bồi thường một số tiền nhất định - có thể là một con số tuyệt đối hay được tính theo một công thức nhất định. Qua đó, các bên đã xác định trước mức bồi thường thiệt hại chứ không phải đợi tòa án hay trọng tài làm công việc này khi xảy ra tranh chấp.

Liệu các điều khoản này có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật Việt Nam hay không?

Câu trả lời còn dang dở

Các quy định hiện hành chưa thực sự rõ ràng về hiệu lực của điều khoản hợp đồng quy định mức bồi thường thiệt hại cố định.

Theo khoản 3, điều 422, Bộ luật Dân sự, “nếu (các bên) không có thỏa thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”. Hiện nay, có hai cách hiểu quy định này. Thứ nhất, các bên có thể thỏa thuận một khoản tiền bồi thường thiệt hại nhất định trong hợp đồng. Thứ hai, các bên chỉ có thể thỏa thuận về việc bồi thường một phần hay toàn bộ thiệt hại thực tế phát sinh.

Khoản 2, điều 302, Luật Thương mại chỉ rõ “giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”. Theo điều luật này, mức bồi thường thiệt hại chỉ có thể là mức thiệt hại thực tế trực tiếp và khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng. Nói cách khác, có vẻ như các bên không được thỏa thuận một mức bồi thường thiệt hại cố định không tương ứng với các khoản tiền này.

Trong thực tế xét xử, một số tòa án đi theo cách tiếp cận của Luật Thương mại và chỉ công nhận quyền được nhận bồi thường thiệt hại thực tế và khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng. Ngược lại, một số trọng tài lại cho rằng khoản 3, điều 422, Bộ luật Dân sự nêu trên cho phép các bên tự do thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại.

Khoản 1, điều 442, Dự thảo Bộ luật Dân sự công bố ngày 2-1-2015 để lấy ý kiến nhân dân (dự thảo BLDS) quy định “Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho những lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả các khoản chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại”. Quy định này dường như lấy cảm hứng từ cách tiếp cận của Luật Thương mại nêu ở trên. Tuy nhiên, điều đáng nói là khoản 3, điều 441 của dự thảo BLDS vẫn giữ cách quy định mập mờ của khoản 3, điều 422, Bộ luật Dân sự. Nói cách khác, dự thảo BLDS vẫn chưa giải quyết được một cách thỏa đáng vấn đề này.

Hướng tiếp cận nào?

Khoản 1, điều 302, Luật Thương mại định nghĩa “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”. Như vậy, bồi thường luôn gắn với yếu tố có thiệt hại (tổn thất) nên nếu tách hẳn chế tài này ra khỏi yếu tố thiệt hại có vẻ đi ngược với bản chất pháp lý của chế định bồi thường thiệt hại. Mặt khác, bên cạnh điều khoản phạt vi phạm, bên có ưu thế trong đàm phán hợp đồng có thể đưa ra mức bồi thường quá cao và khó có thể chấp nhận được. Tuy vậy, nếu phủ nhận giá trị pháp lý của điều khoản này lại đi ngược nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng, vốn là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Việc dung hòa giữa hai cách tiếp cận này có thể cho phép cân bằng lợi ích giữa các bên.

Về điểm này, có thể tham khảo kinh nghiệm của pháp luật Anh, vốn là nền luật thường xuyên được các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế lựa chọn làm luật áp dụng. Điều khoản hợp đồng quy định mức bồi thường cố định được biết tới trong hệ thống pháp luật này dưới tên gọi là liquidated damages clause. Về mặt nguyên tắc, điều khoản này có giá trị pháp lý dù nó có hậu quả là làm tăng hay giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, pháp luật Anh cũng vô hiệu hóa điều khoản này trong hai trường hợp chính. Thứ nhất, khi nó quy định trước một mức bồi thường thiệt hại quá lớn, khó chấp nhận và được tính toán để “răn đe” hành vi vi phạm hơn là để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định mức bồi thường thiệt hại. Triết lý đằng sau cách tiếp cận này chính là việc pháp luật bảo vệ trật tự công (public policy) và là cách để phòng ngừa nguy cơ o ép bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng. Thứ hai, điều khoản này cũng vô hiệu khi được đặt trong một hợp đồng ký với người tiêu dùng và yêu cầu người tiêu dùng khi vi phạm nghĩa vụ phải trả một khoản tiền bồi thường cao một cách bất cân xứng.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online

284

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan