Xử lý vi phạm hành chính: Khổ vì biểu mẫu

Từ thực tế triển khai pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cho thấy, tính chất phức tạp của lĩnh vực này không chỉ ở sự đa dạng về các loại hành vi vi phạm mà còn ở ngay sự thiếu thống nhất trong những văn bản quy phạm pháp luật.

Mỗi địa phương áp dụng một mẫu

Không chỉ không thống nhất với thể thức văn bản hành chính quy định tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19.1.2011 của Bộ Nội vụ mà các biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính còn không thống nhất với các biểu mẫu của các bộ, ngành Trung ương ở các lĩnh vực Công an, Hải quan… nên địa phương gặp lúng túng trong việc triển khai áp dụng các biểu mẫu, dẫn đến việc mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau. Thông thường, các địa phương áp dụng mẫu nào thuận tiện nhất hoặc sử dụng mẫu chuyên ngành (công an, hải quan...) cho tiện việc thống kê, xử lý.

Ngoài việc không thống nhất, nghị định này đang thiếu rất nhiều biểu mẫu như Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả; mẫu biên bản xác minh; biên bản giao quyết định xử phạt; biên bản trả lại tang vật, giấy tờ, phương tiện; biên bản niêm phong - mở niêm phong lô hàng tạm giữ; biên bản lấy mẫu lô hàng để giám định; văn bản kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính...

Đại diện UBND TP Hồ Chí Minh nêu thực tế, mẫu biên bản số 1 ban hành kèm theo Nghị định số 81/2013 có hướng dẫn phải ghi rõ tang vật, phương tiện, giấy tờ bị tạm giữ. Tuy nhiên, Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định, trước khi tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì phải có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền, sau đó mới lập biên bản tạm giữ (ngoại trừ trường hợp cần phải tạm giữ ngay)... Do giữa luật và nghị định không thống nhất cho nên dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau, không ít vụ việc xử lý tùy nghi, tiện thế nào làm thế đó. Thế nên, nhiều địa phương, các lực lượng chức năng thường chọn áp dụng biểu mẫu 1 để ghi luôn việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy tờ vi phạm hành chính thay vì phải làm theo trình tự, thủ tục là phải có quyết định tạm giữ, biên bản tạm giữ.

Đại diện UBND tỉnh An Giang còn cho rằng, một số biểu mẫu kèm theo Nghị định số 81/2013 khó hiểu, khó áp dụng như mẫu quyết định số 02 về xử phạt vi phạm hành chính phần nội dung áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả nên việc ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính của một số cơ quan, đơn vị chưa tuân thủ đúng mẫu. Hay, mẫu Biên bản số 05 quy định có chữ ký, dấu của người ra quyết định tạm giữ, tuy  nhiên đối với những trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm thuộc thẩm quyền tạm giữ của Chủ tịch UBND tỉnh thì việc phải có chữ ký của Chủ tịch UBND tỉnh rất khó khăn.

Hai nghị định điều chỉnh một hành vi

Không khó để có thể chỉ ra sự trùng lắp trong hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính từ những quy định về vi phạm tronh lĩnh vực bán hàng đa cấp đến kinh doanh xăng dầu. Chẳng hạn, hiện tại có 2 nghị định xử phạt điều chỉnh hành vi vi phạm về bán hàng đa cấp đang được áp dụng là: Nghị định số 71/2014/NĐ-CPNghị định số 185/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 124/2015/NĐ-CP).

Đại diện UBND tỉnh Bình Định cho biết thêm, trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu có 2 nghị định xử phạt điều chỉnh, đó là Nghị định số 80/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm hàng hóa và Nghị định số 97/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và dầu khí dầu mỏ hóa lỏng. Điều này gây nên tình trạng các cơ quan chức năng không biết nên áp dụng văn bản nào.

Không chỉ quy định trùng lắp mà tại các văn bản này còn quy định mức xử phạt không thống nhất trong cùng một hành vi. Cụ thể, cùng một hành vi vi phạm nhưng mỗi văn bản lại quy định mức độ xử lý khác nhau. Đại diện Sở Tư pháp Quảng ninh nêu ví dụ về sự chênh lệch mức phạt giữa các hành vi tương tự được quy định tại hai văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Hành vi “kinh doanh không có biển hiệu” được quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 66 Nghị định 158/2013/NĐ-CP trùng lặp với hành vi “không treo biển đại lý Internet hoặc điểm cung cấp dịch vụ truy cập Internet công cộng” được quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 32 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP. Điều đáng  nói, mức xử phạt lại chênh lệch nhau rất lớn (10 - 15 triệu đồng đối với hành vi “kinh doanh không có biển hiệu” và 2 – 5 triệu đồng đối với hành vi “không treo biển đại lý Internet hoặc điểm cung cấp dịch vụ Internet công cộng”.

Không dừng lại ở đó, các văn bản liên quan đến lĩnh vực xử phạt hành chính còn tồn tại một thực tế, cùng hành vi nhưng do hai cơ quan có thẩm quyền xử phạt. Cụ thể, hành vi kinh doanh trò chơi điện tử ở địa điểm cách trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông dưới 200m có thể bị xử phạt theo Nghị định số 174/2013/NĐ - CP và Nghị định số 158/2013/NĐ-CP và do hai cơ quan có thẩm quyền xử phạt khác nhau là Thanh tra Sở Thông tin truyền thông và Thanh tra Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Ở đây có thể hiểu là cơ quan nào thanh tra, kiểm tra, xử lý đều được cả.

Từ thực tế áp dụng và những khó khăn của địa phương quản lý xử cho thấy, một thực tế cần sớm khắc phục đó là hiện nay nhiều bộ, ngành quản lý xử phạt vi phạm hành chính, giữa các ngành lại chưa có sự "liên thông" trong quá trình xây dựng văn bản. Trong khi đó khó có sự phân tách rạch ròi giữa các lĩnh vực, mà ngành nào cũng có nhu cầu quản lý. Hậu quả là mạnh ai người đó quy định, thà quy định quét còn hơn là thiếu, cuối cùng chính lại gây khó cho công tác tổ chức thực thi ở địa phương - thực tế là gây khó cho ngành dọc quản lý ở địa phương. Ở khía cạnh khác có thể thấy, vai trò của cơ quan thẩm định, thẩm tra văn bản cần phải được nâng cao, tránh có sự trùng lắp trong những quy định về hành vi, thẩm quyền xử phạt...

Nguồn: Đại biểu nhân dân

382

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan