• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994

Bản Tiếng Việt

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 31-L/CTN

Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 1994

 

LỆNH

SỐ 31-L/CTN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC CÔNG BỐ  THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ

CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Điều 78 của Luật Tổ chức Quốc hội,

NAY CÔNG BỐ:

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá IX) thông qua ngày 16 tháng 3 năm 1994.

 

CHỦ TỊCH NƯỚC CHXHCNVN




Lê Đức Anh

 

PHÁPLỆNH

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ

Để giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân;
Căn cứ vào Điều 91 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Pháp lệnh này quy định thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

 

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Cá nhân, pháp nhân, theo thủ tục do pháp luật quy định, có quyền khởi kiện vụ án kinh tế để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Điều 2. Quyền tự định đoạt của đương sự

Người khởi kiện có quyền rút đơn kiện, thay đổi nội dung đơn kiện. Các đương sự có quyền hoà giải với nhau.

Điều 3. Nghĩa vụ chứng minh

Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình.

Điều 4. Xác minh, thu thập chứng cứ

Khi cần thiết, Toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác.

Điều 5. Trách nhiệm hoà giải của Toà án

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Điều 6. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự

Các đương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án.

Điều 7. Xét xử công khai

Các vụ án kinh tế được xét xử công khai, trừ trường hợp cần giữ gìn bí mật Nhà nước hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ.

Điều 8. Tiếng nói, chữ viết dùng trong quá trình giải quyết vụ án

Tiếng nói, chữ viết dùng trong quá trình giải quyết vụ án là tiếng Việt.

Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình.

Điều 9. Đại diện do uỷ quyền

Đương sự có thể uỷ quyền cho luật sư hoặc người khác đại diện cho mình tham gia tố tụng.

Điều 10. Hiệu lực của các bản án, quyết định của Toà án

Bản án, quyết định về vụ án kinh tế của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi người tôn trọng; cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Điều 11. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án

Viện Kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế theo quy định của Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân và của Pháp lệnh này.

Chương 2:

THẨM QUYỀN CỦA TOÀ ÁN

Điều 12. Những vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

Toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế sau đây:

1- Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh;

2- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty;

3- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;

4- Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Điều 13. Thẩm quyền của Toà án các cấp

1- Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Toà án cấp huyện) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng, trừ trường hợp có nhân tố nước ngoài.

2- Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Toà án cấp tỉnh) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án kinh tế được quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện. Trong trường hợp cần thiết Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện.

Điều 14. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế là Toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú; trong trường hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản, thì Toà án nơi có bất động sản giải quyết.

Điều 15. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn

Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án để yêu cầu giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:

1- Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn giải quyết vụ án;

2- Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh đó giải quyết vụ án;

3- Nếu vụ án phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết vụ án;

4- Nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú của một trong các bị đơn giải quyết vụ án;

5- Nếu vụ án không chỉ liên quan đến bất động sản, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có bất động sản, nơi có trụ sở hoặc cư trú của bị đơn giải quyết vụ án;

6- Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án ở một trong các nơi đó giải quyết vụ án.

Điều 16. Chuyển vụ án cho Toà án khác; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền

1- Toà án đã thụ lý vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền ngay sau khi phát hiện việc giải quyết vụ án không thuộc thẩm quyền của mình.

2- Tranh chấp về thẩm quyền do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết.

Chương 3:

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ, THAY ĐỔI THẨM PHÁN, HỘI THẨM, KIỂM SÁT VIÊN, THƯ KÝ TOÀ ÁN, NGƯỜI GIÁM ĐỊNH, NGƯỜI PHIÊN DỊCH

Điều 17. Hội đồng xét xử

1- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và một Hội thẩm.

2- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.

3- Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao gồm ba Thẩm phán.

4- Uỷ ban Thẩm phán và Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh khi xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia.

5- Hội đồng xét xử nói tại các điểm 1, 2 và 3 Điều này quyết định theo đa số. Quyết định của Uỷ ban Thẩm phán và Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.

Điều 18. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch

1- Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

a) Đồng thời là đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người thân thích của đương sự, người làm chứng trong vụ án;

b) Đã tham gia cùng một vụ án với tư cách là Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch;

c) Đã tham gia giải quyết cùng một vụ án với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm, trừ các thành viên của Uỷ ban Thẩm phán và Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh, thì được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;

d) Trong một Hội đồng xét xử mà Thẩm phán, Hội thẩm là người thân thích với nhau;

đ) Có căn cứ cho thấy họ có thể không vô tư khi làm nhiệm vụ.

2- Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

a) Đã tham gia tố tụng cùng một vụ án ở cấp xét xử khác;

b) Có căn cứ quy định tại các điểm a, đ khoản 1 Điều này.

Điều 19. Trình tự và thẩm quyền thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch

1- Trước khi mở phiên toà, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch do Chánh án Toà án quyết định; việc thay đổi Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện Kiểm sát quyết định và nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện Kiểm sát thì Viện trưởng Viện Kiểm sát cấp trên quyết định.

2- Tại phiên toà, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký phiên toà, người giám định, người phiên dịch do Hội đồng xét xử quyết định, sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Trong trường hợp không có người thay thế ngay, thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà;

Trong trường hợp Hội đồng xét xử thấy cần phải thay đổi Kiểm sát viên, thì ra quyết định hoãn phiên toà. Việc cử Kiểm sát viên khác do Viện trưởng Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên quyết định.

Chương 4:

NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG

Điều 20. Các đương sự

1- Cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2- Đương sự là cá nhân thì tự mình hoặc có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án.

3- Đương sự là pháp nhân thì thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền.

Điều 21. Quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự

1- Nguyên đơn có quyền thay đổi yêu cầu của mình. Bị đơn có quyền phản bác yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề đạt yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên đương sự khác.

2- Các đương sự có quyền:

a) Đưa ra chứng cứ, được biết về các chứng cứ mà đương sự khác đưa ra;

b) Yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

c) Tham gia phiên toà;

d) Yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch;

đ) Hoà giải với nhau;

e) Tranh luận tại phiên toà;

g) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án;

h) Yêu cầu người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.

3- Các đương sự có nghĩa vụ:

a) Cung cấp đầy đủ, kịp thời những chứng cứ cần thiết liên quan đến yêu cầu của mình;

b) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì có thể bị Toà án phạt tiền từ năm mươi nghìn đồng đến một trăm nghìn đồng;

c) Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà.

Điều 22. Người đại diện do đương sự uỷ quyền

1- Người được uỷ quyền chỉ được thực hiện những hành vi trong phạm vi uỷ quyền.

2- Việc uỷ quyền tham gia tố tụng phải làm thành văn bản.

Điều 23. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1- Đương sự tự mình hoặc có thể nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

2- Một người có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau.

3- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền:

a) Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện;

b) Đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch theo quy định tại Chương III của Pháp lệnh này;

c) Cung cấp chứng cứ, đề đạt yêu cầu, đọc hồ sơ vụ án, ghi chép những điểm cần thiết trong hồ sơ.

4- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có nghĩa vụ sử dụng các quyền tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án.

Điều 24. Người giám định

1- Khi cần thiết, Toà án tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự trưng cầu giám định, Viện Kiểm sát có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự trưng cầu giám định.

Người giám định phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, Viện kiểm sát.

2- Người giám định có quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định, yêu cầu người trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc giám định, tham gia vào việc tranh luận và được đặt câu hỏi về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định.

3- Người yêu cầu trưng cầu giám định hoặc Toà án, Viện Kiểm sát tự mình trưng cầu giám định phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định.

Người thua kiện phải chịu chi phí giám định, nếu kết quả giám định có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án. Nếu kết quả giám định không có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, thì người yêu cầu trưng cầu giám định hoặc Toà án, Viện Kiểm sát tự mình trưng cầu giám định phải chịu chi phí giám định.

Điều 25. Người làm chứng

1- Người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án có thể được Toà án, Viện Kiểm sát triệu tập đến làm chứng. Người làm chứng có nghĩa vụ trình bày trung thực tất cả những gì mà mình biết về vụ án và phải chịu trách nhiệm về lời trình bày của mình.

Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, Viện Kiểm sát.

2- Người yêu cầu Toà án triệu tập người làm chứng phải nộp tiền tạm ứng chi phí cho người làm chứng.

Người thua kiện phải chịu chi phí cho người làm chứng, nếu việc làm chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án. Nếu việc làm chứng không có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, thì người yêu cầu triệu tập người làm chứng phải chịu chi phí cho người làm chứng.

Điều 26. Người phiên dịch

1- Trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt thì Toà án có trách nhiệm cử người phiên dịch.

2- Người phiên dịch có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và phiên dịch trung thực.

3- Người thua kiện phải chịu chi phí phiên dịch.

Điều 27. Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng

1- Nếu đương sự là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế, thì người thừa kế tham gia tố tụng.

2- Nếu đương sự là pháp nhân mà pháp nhân sáp nhập, phân chia, giải thể thì cá nhân, pháp nhân kế thừa các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân cũ có quyền và nghĩa vụ tố tụng của pháp nhân đó.

3- Sự kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng có thể được Toà án chấp nhận ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế.

Điều 28. Tham gia tố tụng của Viện Kiểm sát nhân dân

1- Trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế, Viện Kiểm sát có quyền tham gia tố tụng từ bất cứ giai đoạn nào, nếu xét thấy cần thiết.

2- Toà án gửi cho Viện Kiểm sát cùng cấp các bản sao bản án, quyết định của Toà án ngay sau khi ra các văn bản đó; chuyển cho Viện Kiểm sát hồ sơ vụ án để xem xét theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo yêu cầu của Viện Kiểm sát.

Chương 5:

ÁN PHÍ

Điều 29. Án phí

Các đương sự phải chịu án phí tuỳ theo loại vụ án và trên cơ sở lợi ích, mức độ lỗi của họ trong quan hệ pháp luật mà Toà án giải quyết. Chính phủ phối hợp với Toà án nhân dân tối cao quy định về án phí.

Điều 30. Người phải nộp tiền tạm ứng án phí, người phải chịu án phí

1- Nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2- Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

3- Toà án quyết định mức án phí mà các bên phải chịu.

4- Trong trường hợp rút đơn kiện trước khi mở phiên toà, nguyên đơn được trả lại 50% số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Trong trường hợp hoà giải thành trước khi mở phiên toà, các đương sự chỉ phải chịu 50% án phí. Các đương sự có thể thoả thuận với nhau về mức án phí mà mỗi bên phải chịu, nếu họ không thoả thuận được thì Toà án quyết định.

5- Nếu việc giải quyết vụ án bị đình chỉ theo quy định tại các điểm a, c, d, đ, khoản 1 Điều 39 của Pháp lệnh này, thì tiền tạm ứng án phí được nộp vào ngân sách Nhà nước.

6- Nếu việc giải quyết vụ án bị tạm đình chỉ, thì án phí được quyết định khi vụ án được tiếp tục giải quyết.

Chương 6:

KHỞI KIỆN, THỤ LÝ VỤ ÁN

Điều 31. Khởi kiện vụ án

1- Người khởi kiện phải làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết vụ án kinh tế trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày phát sinh tranh chấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2- Đơn kiện phải có các nội dung sau đây:

a) Ngày, tháng, năm viết đơn;

b) Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án;

c) Tên của nguyên đơn, bị đơn;

d) Địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn; trong trường hợp không rõ địa chỉ của bị đơn, thì ghi địa chỉ nơi có trụ sở hoặc cư trú cuối cùng của bị đơn;

đ) Tóm tắt nội dung tranh chấp, giá trị tranh chấp;

e) Quá trình thương lượng của các bên;

g) Các yêu cầu đề nghị Toà án xem xét, giải quyết.

3- Đơn kiện phải do nguyên đơn ký hoặc người đại diện của nguyên đơn ký. Kèm theo đơn kiện phải có các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn.

Điều 32. Trả lại đơn kiện

Toà án trả lại đơn kiện trong những trường hợp sau đây:

1- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

2- Thời hiệu khởi kiện đã hết;

3- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc của cơ quan có thẩm quyền khác;

4- Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án;

5- Sự việc đã được các bên thoả thuận trước là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài.

Điều 33. Thụ lý vụ án

Nếu Toà án xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình, thì thông báo ngay cho nguyên đơn biết. Trong thời hạn bẩy ngày, kể từ ngày được thông báo, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và Toà án vào sổ thụ lý vụ án vào ngày nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí.

Chương 7

CHUẨN BỊ XÉT XỬ

Điều 34. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1- Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết nội dung đơn kiện.

Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày được thông báo, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải gửi cho Toà án ý kiến của mình bằng văn bản về đơn kiện và các tài liệu khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án.

2- Trong thời hạn bốn mươi ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà phải ra một trong các quyết định sau đây:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;

c) Đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Đối với các vụ án phức tạp, thì thời hạn nói trên không quá sáu mươi ngày.

3- Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng, thì thời hạn đó không quá hai mươi ngày.

Nếu Viện Kiểm sát tham gia phiên toà sơ thẩm, thì ngay sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Toà án phải gửi hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn năm ngày.

Điều 35. Xác minh, thu thập chứng cứ

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu xét thấy cần thiết, Toà án có thể tiến hành hoặc uỷ thác cho Toà án khác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án.

Toà án được uỷ thác có nhiệm vụ thực hiện ngay sự uỷ thác và thông báo kết quả cho Toà án đã uỷ thác.

Việc xác minh, thu thập chứng cứ bao gồm:

a) Yêu cầu đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ hoặc trình bày về những vấn đề cần thiết;

b) Yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp bằng chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án;

c) Yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần thiết;

d) Xác minh tại chỗ;

đ) Trưng cầu giám định;

e) Yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc lập hội đồng định giá tài sản có tranh chấp.

Điều 36. Hoà giải

1- Trước khi mở phiên toà, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

2- Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có mặt khi hoà giải.

3- Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thì Toà án lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự và quyết định này có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp các đương sự không thể thoả thuận với nhau được, thì Toà án lập biên bản hoà giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Điều 37. Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung sau đây:

1- Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà;

2- Việc xét xử được tiến hành công khai hoặc kín;

3- Tên của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác;

4- Nội dung tranh chấp;

5- Họ và tên của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký phiên toà; họ và tên của Kiểm sát viên, nếu Viện Kiểm sát tham gia phiên toà.

Điều 38. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án

1- Toà án quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết, pháp nhân đã giải thể mà chưa có cá nhân, pháp nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng;

b) Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng;

c) Chưa tìm được địa chỉ của bị đơn hoặc bị đơn bỏ trốn;

d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án hình sự, vụ án dân sự và vụ án kinh tế khác;

đ) Đã có Toà án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, mà doanh nghiệp đó là đương sự của vụ án;

e) Trong khi đang giải quyết vụ án có liên quan đến doanh nghiệp mà phát hiện doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản; trong trường hợp này Toà án thông báo cho các chủ nợ, doanh nghiệp hữu quan biết.

2- Toà án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn.

3- Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Điều 39. Đình chỉ việc giải quyết vụ án

1- Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế, pháp nhân đã giải thể mà không có cá nhân, pháp nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;

b) Người khởi kiện rút đơn kiện;

c) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;

d) Sự việc đã được giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc của cơ quan có thẩm quyền khác;

đ) Thời hạn khởi kiện đã hết trước ngày Toà án thụ lý vụ án;

e) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án;

g) Đã có quyết định của Toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, mà doanh nghiệp đó là đương sự của vụ án.

2- Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

Điều 40. Gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử

Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải gửi ngay quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp, các đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự.

Chương 8:

BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

Điều 41. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

1- Đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ bằng chứng, bảo đảm việc thi hành án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; nếu có lỗi trong việc gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của Viện Kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Nếu do quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường.

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án.

2- Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được Toà án xem xét trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày có yêu cầu. Nếu chấp nhận yêu cầu, thì Toà án ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Điều 42. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm có:

1- Kê biên tài sản đang tranh chấp, phong toả tài khoản;

2- Cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác thực hiện một số hành vi nhất định;

3- Cho thu hoạch và bảo quản sản vật có liên quan đến tranh chấp;

4- Cho bán sản phẩm, hàng hoá dễ bị hư hỏng.

Điều 43. Thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

1- Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể bị thay đổi hoặc huỷ bỏ.

2- Việc thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi mở phiên toà do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án quyết định, tại phiên toà do Hội đồng xét xử quyết định.

Điều 44. Khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

1- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành ngay.

2- Các đương sự có quyền khiếu nại, Viện Kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án phải xem xét và trả lời.

Chương 9:

PHIÊN TOÀ SƠ THẨM

Điều 45. Những người tham gia phiên toà

Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các đương sự hoặc người đại diện của đương sự. Nếu Viện Kiểm sát có yêu cầu tham gia phiên toà thì phiên toà được tiến hành với sự có mặt của Kiểm sát viên; nếu sự có mặt của người làm chứng, người giám định, người phiên dịch là không thể thiếu được thì phiên toà chỉ được tiến hành khi họ có mặt.

Điều 46. Thủ tục bắt đầu phiên toà

1- Khi bắt đầu phiên toà, chủ tọa phiên toà đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, kiểm tra sự có mặt và căn cước của những người được triệu tập đến phiên toà và giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà. Nếu người được triệu tập mà vắng mặt, thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn hoặc tiếp tục phiên toà.

2- Chủ tọa phiên toà giới thiệu các thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà, người giám định, người phiên dịch và giải thích cho người tham gia tố tụng nói tại các điều 20, 22 và 23 của Pháp lệnh này về quyền yêu cầu thay đổi thành phần Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà, người giám định, người phiên dịch. Nếu có người yêu cầu, thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định.

3- Chủ toạ phiên toà giải thích cho người giám định, người phiên dịch về quyền và nghĩa vụ của họ. Những người này phải cam đoan làm tròn nghĩa vụ.

4- Người làm chứng phải cam đoan khai đúng sự thật. Nếu thấy người làm chứng có thể bị ảnh hưởng bởi lời khai của người khác, thì chủ tọa phiên toà cho cách ly người làm chứng với những người khác trước khi lấy lời khai của người làm chứng.

5- Chủ tọa phiên toà hỏi đương sự hoặc người đại diện của đương sự, Kiểm sát viên về việc cung cấp thêm chứng cứ hoặc yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng. Nếu có người yêu cầu, thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định.

Điều 47. Xét hỏi tại phiên toà

1- Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện của đương sự, người làm chứng, người giám định; xem xét vật chứng.

2- Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử hỏi trước, sau đó đến Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Những người tham gia tố tụng có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm.

Điều 48. Tranh luận tại phiên toà

Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc xét hỏi, các đương sự hoặc người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày các tình tiết liên quan đến vụ án và nêu ý kiến của mình về cách thức giải quyết vụ án, tham gia tranh luận, có quyền đáp lại ý kiến của người khác, Kiểm sát viên trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án.

Điều 49. Hoãn phiên toà

1- Hội đồng xét xử hoãn phiên toà khi:

a) Đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng, Kiểm sát viên vắng mặt trong trường hợp Viện Kiểm sát có yêu cầu tham gia phiên toà;

b) Người làm chứng vắng mặt mà cần được lấy lời khai hoặc xác minh lại lời khai tại phiên toà;

c) Thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà, người giám định, người phiên dịch bị thay đổi mà không có ngay người thay thế.

2- Việc xét xử vẫn được tiến hành, nếu đương sự yêu cầu xét xử vắng mặt họ hoặc đương sự không phải là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

Điều 50. Tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án tại phiên toà

1- Tại phiên toà, nếu người khởi kiện rút đơn kiện, thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Các quyết định này có hiệu lực pháp luật.

2- Tại phiên toà, nếu có trường hợp nói tại Điều 38 của Pháp lệnh này, thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hoặc nếu có các trường hợp nói tại các điểm a, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 39 của Pháp lệnh này, thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Các quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Toà án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án khi lý do của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn.

Điều 51. Nghị án

Các quyết định của Hội đồng xét xử phải được các thành viên thảo luận và quyết định theo đa số. Khi nghị án phải có biên bản ghi các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử.

Điều 52. Nội dung bản án

Bản án phải có các nội dung sau đây:

1- Ngày, tháng, năm và địa điểm tiến hành phiên toà;

2- Họ và tên của thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà;

3- Tên, địa chỉ của đương sự, người đại diện của họ;

4- Yêu cầu của đương sự;

5- Những tình tiết đã được chứng minh; những chứng cứ, căn cứ pháp luật mà Toà án dựa vào để giải quyết vụ án;

6- Quyết định của Toà án về việc giải quyết vụ án;

7- Mức án phí mà đương sự phải chịu;

8- Quyền kháng cáo của đương sự.

Điều 53. Tuyên án

Chủ tọa phiên toà công bố toàn văn bản án và có trách nhiệm giải thích cho đương sự biết quyền kháng cáo và nghĩa vụ chấp hành bản án.

Điều 54. Các quyết định và nội dung quyết định

1- Toà án ra các quyết định để giải quyết vấn đề phát sinh trong quá trình tố tụng.

2- Việc ra quyết định trước khi mở phiên toà do Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà thực hiện. Việc ra quyết định tại phiên toà do Hội đồng xét xử thực hiện.

3- Nội dung của quyết định gồm:

a) Toà án xét xử vụ án; ngày, tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác;

b) Yêu cầu của đương sự;

c) Căn cứ pháp luật của việc ra quyết định;

d) Kết luận về vấn đề cần ra quyết định;

đ) Xác định các hành vi pháp lý mà cá nhân, tổ chức có liên quan phải thực hiện;

e) Quyền kháng cáo của đương sự.

Điều 55. Sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định

Toà án không được sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định đã tuyên, trừ trường hợp có sai sót rõ ràng về số liệu tính toán hoặc về chính tả và phải thông báo ngay cho đương sự, Viện Kiểm sát cùng cấp và cá nhân, tổ chức khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Điều 56. Biên bản phiên toà

1- Mọi diễn biến của phiên toà phải được phản ánh rõ trong biên bản phiên toà. Chủ toạ phiên toà kiểm tra biên bản phiên toà và cùng với Thư ký phiên toà ký vào biên bản.

2- Sau năm ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được xem biên bản phiên toà, có quyền yêu cầu sửa chữa, bổ sung biên bản. Chủ toạ phiên toà, Thư ký phiên toà và người có yêu cầu ký tên xác nhận những điều sửa chữa, bổ sung. Nếu yêu cầu sửa chữa, bổ sung biên bản phiên toà không được chấp nhận thì họ có quyền ghi ý kiến của mình bằng văn bản để đưa vào hồ sơ vụ án.

Điều 57. Cấp trích lục, bản sao bản án hoặc quyết định

1- Ngay sau khi phiên toà kết thúc, đương sự được Toà án cấp trích lục bản án hoặc quyết định về vụ án. Chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày tuyên án, ra quyết định, Toà án cấp cho đương sự bản sao bản án hoặc quyết định theo yêu cầu của họ, đồng thời gửi cho Viện Kiểm sát cùng cấp.

2- Nếu đương sự vắng mặt tại phiên toà, thì Toà án gửi ngay cho họ trích lục bản án hoặc quyết định về vụ án.

Điều 58. Biện pháp áp dụng đối với người vi phạm trật tự phiên toà

Người vi phạm trật tự phiên toà, tuỳ từng trường hợp, có thể bị chủ tọa phiên toà cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bị bắt giữ.

Cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ phiên toà và thi hành lệnh của chủ tọa phiên toà về việc buộc người vi phạm trật tự phiên toà rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ người vi phạm.

Chương 10:

THỦ TỤC PHÚC THẨM

Điều 59. Quyền kháng cáo, kháng nghị

1- Đương sự hoặc người đại diện của đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu Toà án trên một cấp xét xử phúc thẩm.

2- Viện trưởng Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.

Điều 60. Nội dung kháng cáo, kháng nghị

1- Người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo; Viện Kiểm sát kháng nghị bằng văn bản.

2- Trong kháng cáo, kháng nghị phải nêu rõ:

a) Nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị;

b) Lý do kháng cáo, kháng nghị;

c) Yêu cầu của người kháng cáo, kháng nghị.

Điều 61. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị

1- Thời hạn kháng cáo là mười ngày, kể từ ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định; đối với đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn này tính từ ngày bản sao bản án, quyết định được giao cho họ hoặc được niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi họ có trụ sở hoặc cư trú.

2- Thời hạn kháng nghị của Viện Kiểm sát cùng cấp là mười ngày, của Viện Kiểm sát cấp trên là hai mươi ngày, kể từ ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định. Nếu Kiểm sát viên không tham gia phiên toà, thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện Kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết định.

3- Nếu kháng cáo, kháng nghị quá hạn vì trở ngại khách quan, thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị là mười ngày, kể từ ngày trở ngại đó không còn nữa.

Điều 62. Thủ tục kháng cáo, kháng nghị

1- Kháng cáo, kháng nghị được gửi đến Toà án cấp sơ thẩm để giải quyết vụ án.

2- Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày người kháng cáo xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm hoặc kể từ ngày nhận được kháng nghị, Toà án cấp sơ thẩm phải gửi kháng cáo, kháng nghị kèm theo toàn bộ hồ sơ vụ án cho Toà án cấp phúc thẩm.

Điều 63. Thông báo việc kháng cáo, kháng nghị

Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày người kháng cáo xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, Toà án cấp sơ thẩm phải thông báo việc kháng cáo cho Viện Kiểm sát cùng cấp và cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo; Viện Kiểm sát gửi bản sao bản kháng nghị cho đương sự có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị có trách nhiệm gửi cho Toà án cấp phúc thẩm ý kiến của mình về kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được thông báo.

Điều 64. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị

Phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa có hiệu lực pháp luật. Phần bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật.

Điều 65. Bổ sung, xác minh chứng cứ

Trước khi xét xử hoặc tại phiên toà phúc thẩm, Viện Kiểm sát, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị có quyền bổ sung chứng cứ mới.

Toà án cấp phúc thẩm có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành hoặc uỷ thác cho Toà án khác tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung.

Điều 66. Thời hạn xét xử phúc thẩm

Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Toà án cấp sơ thẩm gửi đến, Toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà phúc thẩm; trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, thì thời hạn đó là hai tháng.

Điều 67. Rút kháng cáo, kháng nghị; hậu quả của việc rút kháng cáo, kháng nghị

Trước khi mở phiên toà phúc thẩm hoặc tại phiên toà phúc thẩm, đương sự đã kháng cáo có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng cáo. Viện kiểm sát đã kháng nghị hoặc Viện Kiểm sát cấp trên có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng nghị và Toà án ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng cáo, kháng nghị đã được rút.

Điều 68. Những người tham gia phiên toà phúc thẩm

1- Viện Kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà phúc thẩm trong trường hợp Viện Kiểm sát kháng nghị. Đối với các trường hợp khác Viện Kiểm sát tham gia phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy cần thiết. Nếu Viện Kiểm sát tham gia phiên toà thì hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện Kiểm sát nghiên cứu trong thời hạn mười ngày.

2- Đương sự kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị phải được triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.

3- Toà án chỉ triệu tập người giám định, người làm chứng khi có yêu cầu của đương sự và khi thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.

4- Nếu Viện Kiểm sát phải tham gia phiên toà hoặc có yêu cầu tham gia phiên toà mà không tham gia được, thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà. Nếu những người nói tại các điểm 2 và 3 Điều này vắng mặt mà không có lý do chính đáng, thì Toà án vẫn tiến hành xét xử.

Điều 69. Phiên toà phúc thẩm

Phiên toà phúc thẩm được tiến hành theo các thủ tục như phiên toà sơ thẩm, nhưng trước khi xem xét kháng cáo, kháng nghị, một thành viên Hội đồng xét xử trình bày nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung của kháng cáo, kháng nghị.

Điều 70. Quyền hạn của Toà án cấp phúc thẩm

Toà án cấp phúc thẩm có quyền:

1- Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm;

2 - Sửa đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm;

3- Huỷ bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc việc xác minh, thu thập chứng cứ của Toà án cấp sơ thẩm không đầy đủ mà Toà án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được;

4- Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 38 hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 39 của Pháp lệnh này.

Điều 71. Căn cứ để sửa đổi bản án, quyết định sơ thẩm

Bản án, quyết định sơ thẩm bị sửa đổi một phần hoặc toàn bộ khi:

1- Bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm trái pháp luật không phù hợp với hồ sơ vụ án.

2- Có chứng cứ mới cho thấy bản án, quyết định sơ thẩm sai pháp luật, không đúng với sự thật khách quan của vụ án.

Điều 72. Bản án, quyết định phúc thẩm

1- Sau khi xem xét kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án, quyết định phúc thẩm. Ngoài các nội dung nói tại Điều 52 và Điều 54 của Pháp lệnh này, trừ quy định về quyền kháng cáo của đương sự, trong bản án, quyết định phúc thẩm phải nêu rõ phần quyết định của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung kháng cáo, kháng nghị.

Bản án, quyết định phúc thẩm phải được các Thẩm phán trong Hội đồng xét xử ký tên.

2- Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

3- Bản sao bản án, quyết định phúc thẩm phải được gửi cho đương sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định.

Điều 73. Phúc thẩm quyết định của Toà án cấp sơ thẩm

1- Khi phúc thẩm quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án không phải mở phiên toà, không phải triệu tập các đương sự, trừ trường hợp cần phải nghe ý kiến của họ trước khi ra quyết định.

2- Toà án cấp phúc thẩm phải ra quyết định giải quyết việc kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị.

3- Khi xem xét quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm có những quyền hạn được quy định tại Điều 70 của Pháp lệnh này. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Chương 11:

THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM

Điều 74. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1- Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp.

2- Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân địa phương.

3- Chánh án Toà án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện Kiểm sát cấp tỉnh có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện.

Điều 75. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

2- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

3- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Điều 76. Kháng nghị và thông báo việc kháng nghị

1- Trong kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải ghi rõ căn cứ kháng nghị. Kháng nghị phải được gửi cho Toà án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị, Toà án sẽ xét xử giám đốc thẩm, đương sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị.

Toà án phải gửi kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu trong thời hạn mười ngày.

2- Người kháng nghị có quyền rút kháng nghị trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà.

3- Người kháng nghị có quyền hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.

Điều 77. Thời hạn kháng nghị và thời hạn xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm

1- Thời hạn kháng nghị là chín tháng, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

2- Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Toà án phải mở phiên toà giám đốc thẩm.

Điều 78. Thẩm quyền giám đốc thẩm

1- Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh giám đốc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện bị kháng nghị.

2- Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp tỉnh bị kháng nghị.

3- Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà thuộc Toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị.

4- Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những vụ án mà quyết định của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị.

Điều 79. Phiên toà giám đốc thẩm

1- Phiên toà giám đốc thẩm không phải triệu tập đương sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị, trừ trường hợp Toà án xét thấy cần phải nghe ý kiến của họ trước khi quyết định.

2- Tại phiên toà, một thành viên Hội đồng xét xử trình bày nội dung vụ án, nội dung kháng nghị. Nếu Toà án có triệu tập người tham gia tố tụng thì họ trình bày ý kiến của mình trước khi Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận và ra bản án, quyết định.

Điều 80. Quyền hạn của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm

Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền:

1- Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

2- Sửa đổi một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;

3- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc việc xác minh, thu thập chứng cứ của Toà án cấp dưới không đầy đủ mà Toà án cấp giám đốc thẩm không thể bổ sung được;

4- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 39 của Pháp lệnh này.

Chương 12:

THỦ TỤC TÁI THẨM

Điều 81. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

1- Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp.

2- Chánh án Toà án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện Kiểm sát cấp tỉnh có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà áp cấp huyện.

Điều 82. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1- Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được khi giải quyết vụ án;

2- Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng;

3- Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án;

4- Bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước mà Toà án dựa vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ bỏ.

Điều 83. Thời hạn kháng nghị; thông báo việc kháng nghị

1- Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.

2- Bản kháng nghị và hồ sơ vụ án phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn mười ngày.

3- Bản sao bản kháng nghị phải được gửi cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị.

Điều 84. Thời hạn xét xử tái thẩm

Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Toà án phải mở phiên toà tái thẩm.

Điều 85. Thẩm quyền tái thẩm, phiên toà tái thẩm

Các quy định tại Điều 78 và Điều 79 của Pháp lệnh này cũng được áp dụng đối với việc xét xử tái thẩm.

Điều 86. Quyền hạn của Hội đồng xét xử tái thẩm

Hội đồng xét xử tái thẩm có quyền:

1- Giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

2- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại;

3- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 39 của Pháp lệnh này.

Chương 13:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 87. Giải quyết các tranh chấp kinh tế có nhân tố nước ngoài

Các quy định của Pháp lệnh này cũng được áp dụng đối với việc giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Việt Nam, nếu một hoặc các bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

Điều 88. Thi hành các bản án, quyết định của Toà án

Bản án, quyết định về vụ án kinh tế được thi hành theo Pháp lệnh thi hành án dân sự.

Điều 89. Hiệu lực của Pháp lệnh

Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 1994.

Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.

Điều 90. Hướng dẫn thi hành

Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng của mình hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.

 

 

Nông Đức Mạnh

(Đã ký)

 

- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 117-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 27/06/1997)

Căn cứ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16 tháng 3 năm 1994;
...
Chương 3: ÁN PHÍ KINH TẾ

Điều 11. Án phí kinh tế bao gồm án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế phúc thẩm.

Điều 12.
...
Điều 13. Mức án phí kinh tế phúc thẩm đối với tất cả các vụ án kinh tế là 200.000 đồng.

Điều 14. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí kinh tế được quy định như sau:
...
Điều 15. Trong các trường hợp dưới đây, tiền tạm ứng án phí kinh tế đã nộp được xử lý như sau:
...
Điều 16. Việc chịu án phí kinh tế sơ thẩm được quy định như sau:
...
Điều 17. Việc chịu án phí kinh tế phúc thẩm được quy định như sau:

Xem nội dung VB
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 4 Nghị định 70-CP

Căn cứ vào Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16 tháng 3 năm 1994;
...
Chương 4: ÁN PHÍ KINH TẾ

Điều 14.- Án phí kinh tế bao gồm án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế phúc thẩm.
...
Điều 15.-
...
Điều 16.- Mức án phí kinh tế phúc thẩm đối với tất cả các vụ án kinh tế là 200.000 đồng.
...
Điều 17.- Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí kinh tế được quy định như sau:
...
Điều 18.- Trong các trường hợp sau đây, tiền tạm ứng án phí kinh tế đã nộp được xử lý như sau:
...
Điều 19.- Việc chịu án phí kinh tế sơ thẩm được quy định như sau:
...
Điều 20.- Việc chịu án phí kinh tế phúc thẩm được quy định như sau:

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 117-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 27/06/1997)
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 4 Nghị định 70-CP
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 117-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 27/06/1997)

Căn cứ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16 tháng 3 năm 1994;
...
Chương 3: ÁN PHÍ KINH TẾ

Điều 11. Án phí kinh tế bao gồm án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế phúc thẩm.

Điều 12.
...
Điều 13. Mức án phí kinh tế phúc thẩm đối với tất cả các vụ án kinh tế là 200.000 đồng.

Điều 14. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí kinh tế được quy định như sau:
...
Điều 15. Trong các trường hợp dưới đây, tiền tạm ứng án phí kinh tế đã nộp được xử lý như sau:
...
Điều 16. Việc chịu án phí kinh tế sơ thẩm được quy định như sau:
...
Điều 17. Việc chịu án phí kinh tế phúc thẩm được quy định như sau:

Xem nội dung VB
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 4 Nghị định 70-CP

Căn cứ vào Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16 tháng 3 năm 1994;
...
Chương 4: ÁN PHÍ KINH TẾ

Điều 14.- Án phí kinh tế bao gồm án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế phúc thẩm.
...
Điều 15.-
...
Điều 16.- Mức án phí kinh tế phúc thẩm đối với tất cả các vụ án kinh tế là 200.000 đồng.
...
Điều 17.- Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí kinh tế được quy định như sau:
...
Điều 18.- Trong các trường hợp sau đây, tiền tạm ứng án phí kinh tế đã nộp được xử lý như sau:
...
Điều 19.- Việc chịu án phí kinh tế sơ thẩm được quy định như sau:
...
Điều 20.- Việc chịu án phí kinh tế phúc thẩm được quy định như sau:

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 117-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 27/06/1997)
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 4 Nghị định 70-CP
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:

I - VỀ CÁC VỤ ÁN KINH TẾ THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TOÀ ÁN:

Theo quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế sau đây:

1. "Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân; giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh".

Khi thi hành quy định này cần chú ý:

a) Pháp nhân là tổ chức có đủ các điều kiện được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, như: Pháp lệnh Hợp đồng dân sự, Nghị định số 17/HĐBT ngày 16-1-1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế v.v... Pháp nhân trong các tranh chấp về hợp đồng kinh tế thường hay gặp là: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp có 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp của các tổ chức, đoàn thể xã hội...

b) Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là người đã được cấp giấy phép kinh doanh và đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan Trọng tài kinh tế từ trước ngày 1-7-1994 hoặc Uỷ ban kế hoạch từ ngày 1-7-1994, (thường được gọi là doanh nghiệp tư nhân).

2. "Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty".

a) Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty: Đây là các tranh chấp về phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn (thông thường phần vốn góp đó được tính bằng tiền, nhưng cũng có thể bằng hiện vật hoặc bằng bản quyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với mỗi công ty cổ phần; về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công ty đổi các khoản nợ hoặc thanh toán các khoản nợ của công ty, thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể công ty; về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty.

b) Các tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau: Đây là các tranh chấp giữa các thành viên của công ty về việc trị giá phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên công ty đó cho người khác không phải là thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếu không ghi tên cổ phiếu có ghi tên; về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ứng với số cổ phiếu của thành viên công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên của công ty trong trường hợp công ty bị giải thể, về các vấn đề khác giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty.

3. "Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu"...

Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu... là các tranh chấp về mua, bán cổ phiếu, trái phiếu đã phát hành và cổ phiếu mới, trái phiếu mới sắp phát hành của công ty cổ phần.

4. "Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật".

Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật cần được hiểu là các tranh chấp mà trong tương lai khi ban hành văn bản pháp luật trong đó có quy định đó là các tranh chấp kinh tế và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Công văn 11-KHXX năm 1996

Qua hơn một năm thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền, Toà án nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tốt những tranh chấp kinh tế, góp phần ổn định trật tự sản xuất kinh doanh và củng cố việc sản xuất kinh doanh tuân theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng còn những vướng mắc, nhất là khi pháp luật chưa thống nhất, nhiều văn bản có những quy định không còn phù hợp nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung, do đó dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau nên một số vụ án phải giải quyết nhiều lần, tính thuyết phục không cao, nhiều Toà án địa phương đã có văn bản phản ánh những vấn đề vướng mắc về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của Toà án nhân dân, cũng như một số vướng mắc khác trong việc thụ lý giải quyết các vụ án kinh tế. Để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề đó như sau:

1.Về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của Toà án nhân dân

Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế thì chỉ có những hợp đồng được ký giữa pháp nhân với pháp nhân hoặc giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật mới được coi là hợp đồng kinh tế. Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 17/HĐBT ngày 16 -1 -1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì: cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là người đã được cấp giấy phép kinh doanh và đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định về đăng ký kinh doanh. Như vậy, pháp luật đã quy định rõ, chủ thể của hợp đồng kinh tế ít nhất phải có một trong các bên là pháp nhân, bên là cá nhân phải là người đã được cấp giấy phép kinh doanh và đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền (trước đây là Trọng tài kinh tế, hiện nay là Uỷ ban kế hoạch). Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (29-4-1991) thì cá nhân có đăng ký kinh doanh mà không phải là doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật doanh nghiệp tư nhân, dù họ có ký hợp đồng với mục đích sản xuất kinh doanh, thì đó cũng chỉ là hợp đồng dân sự chứ không phải là hợp đồng kinh tế. Hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao tại Công văn số 442/KHXX ngày 18-7-1994 là đúng, hướng dẫn về thẩm quyền tại Thông tư số 11-TT/PL ngày 25-5-1992 của Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế nay không còn phù hợp nên không áp dụng vào việc thụ lý và giải quyết các vụ án kinh tế nữa. Các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa các doanh nghiệp tư nhân với nhau thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Tuy nhiên, nếu Toà án nhân dân giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế mà về nội dung đã được giải quyết đúng, thì không cần thiết huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật vì lý do không đúng thẩm quyền, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị về mặt thủ tục tố tụng hoặc đương sự khiếu nại gay gắt yêu cầu được giải quyết đúng thẩm quyền.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
I- VỀ THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN
...
2. Đối với các tranh chấp kinh tế quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh mà phát sinh trước ngày 1-7-1994 thì đương sự vẫn có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết là sáu tháng, kể từ ngày 1-7-1994. Hết ngày 31-12-1994 đương sự không có quyền khởi kiện nữa.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 04-LN/TT năm 1996

Thực hiện nghị quyết của Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 8, được thông qua ngày 28-10-1995 về việc thi hành Bộ luật dân sự, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số vấn đề của điểm 1 Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế như sau:

Theo điểm 1 Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh. Theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ký kết giưa pháp nhân với pháp nhân,giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, theo tinh thần của Điều 57 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự ngày 29-4-1991 thì các hợp đồng có mục đích kinh doanh được ký kết với cá nhân có đăng ký kinh doanh mà không phải là doanh nghiệp tư nhân theo quyđịnh của Luật doanh nghiệp tư nhân là hợp đồng dân sự. Vì vậy đã có hướng dẫn là các tranh chấp về hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh mà không phải là doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật doanh nghiệp tư nhân được giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.

Theo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự thì Pháp lệnh Hợp đồng dân sự ngày 29-4-1991 hết hiệu lực kể từ ngày 1-7-1996. Cho nên, từ nay trở đi cho tới khi có quy định mới của pháp luật về hợp đồng kinh tế, cần áp dụng quy định của pháp luật có hiệu lực trước khi ban hành Pháp lênh hợp đồng dân sự, nghĩa là áp dụng Điều 2 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế để coi hợp đồng có mục đích kinh doanh được ký kết giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh dù không phải là doanh nghiệp tư nhân cũng là hợp đồng kinh tế; do đó, các vụ án về tranh chấp về loại hợp đồng kinh tế này do Toà án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế. Tuy nhiên, đối với các vụ án về tranh chấp loại này mà Toà án đang giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự theo hướng dẫn trước đây thì tiếp tục giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, chứ không chuyển sang giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Công văn 442/KHXX năm 1994
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Công văn 11-KHXX năm 1996
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 04-LN/TT năm 1996
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
II - VỀ THẨM QUYỀN CỦA CÁC TOÀ ÁN:

1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 của Pháp lệnh thì Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng, trừ trường hợp có nhân tố nước ngoài; do đó, khi thi hành quy định này cần chú ý là Toà án nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế có đầy đủ cả ba điều kiện sau đây:

a) Phải là tranh chấp về hợp đồng kinh tế;

b) Giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng;

c) Không có nhân tố nước ngoài.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Công văn 442/KHXX năm 1994
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
II - VỀ THẨM QUYỀN CỦA CÁC TOÀ ÁN:
...
2. Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Pháp lệnh thì Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tất cả những vụ án kinh tế quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện tức là những vụ án kinh tế có đầy đủ cả ba điều kiện theo hướng dẫn tại điểm 1 mục này.

Tuy nhiên, Pháp lệnh cũng quy định trong trường hợp cần thiết Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện.

Trường hợp cần thiết thường là: Khi vụ án có nhiều tình tiết phức tạp; khi vụ án có nhiều đương sự ở trên địa bàn thuộc các huyện khác nhau và xa nhau; Toà án cấp huyện chưa có Thẩm phán để có thể phân công giải quyết vụ án kinh tế, hoặc tuy có Thẩm phán để có thể phân công giải quyết vụ án kinh tế, nhưng thuộc một trong các trường hợp phải thay đổi Thẩm phán mà không có Thẩm phán khác để thay thế.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Công văn 442/KHXX năm 1994
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
II - VỀ THẨM QUYỀN CỦA CÁC TOÀ ÁN:
...
3. Theo quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh thì trong một số trường hợp nhất định, có nhiều Toà án có thẩm quyền giải quyết một vụ án kinh tế cụ thể và nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong các Toà án đó. Để tránh việc có tranh chấp về thẩm quyền, thì Toà án nào thuộc một trong các Toà án có thẩm quyền mà nhận được đơn khởi kiện trước tiên của nguyên đơn, đã dự tính tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn và nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí, có thẩm quyền thụ lý vụ án theo đúng quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Công văn 442/KHXX năm 1994
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
II - VỀ THẨM QUYỀN CỦA CÁC TOÀ ÁN:
...
4. Sau khi thụ lý vụ án kinh tế, nếu phát hiện việc giải quyết vụ án không thuộc thẩm quyền của mình, thì Toà án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền giải quyết, trong đó cần nêu rõ lý do chuyển hồ sơ vụ án, đồng thời phải thông báo ngay cho nguyên đơn biết.

Trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền, thì những Toà án có tranh chấp đó phải báo cáo ngay lên Toà án cấp trên trực tiếp để Toà án đó quyết định việc giao cho Toà án nào giải quyết vụ án, cụ thể như sau:

a) Nếu tranh chấp về thẩm quyền giữa hai Toà án cấp huyện trong một tỉnh, thì Toà án cấp tỉnh trực tiếp giải quyết.

b) Nếu tranh chấp về thẩm quyền giữa hai Toà án cấp huyện thuộc hai địa phương cấp tỉnh hoặc giữa Toà án cấp tỉnh này với Toà án cấp huyện thuộc tỉnh khác, thì Toà án cấp tỉnh của hai địa phương cấp tỉnh phối hợp giải quyết tranh chấp bằng việc giao cho một toà án cấp huyện thụ lý giải quyết vụ án hoặc một Toà án cấp tỉnh lấy hồ sơ vụ án lên để giải quyết. Nếu hai Toà án cấp tỉnh không thống nhất được với nhau về việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền trong trường hợp này thì hai Toà án cấp tỉnh đó báo cáo và chuyển hồ sơ vụ án lên Toà án nhân dân tối cao để xem xét, quyết định.

c) Nếu tranh chấp về thẩm quyền giữa hai Toà án cấp tỉnh, thì toà án nhân dân tối cao giải quyết.

Thời hạn để Toà án cấp trên xem xét, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền là 7 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Công văn 442/KHXX năm 1994
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
III - VỀ VIỆC UỶ QUYỀN, VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA ĐƯƠNG SỰ

1. Khi thực hiện các quy định của Pháp lệnh về việc uỷ quyền cần chú ý là việc uỷ quyền tham gia tố tụng phải được làm thành văn bản, trong đó cần xác định rõ phạm vi uỷ quyền mà người được uỷ quyền được thực hiện. Nếu đương sự uỷ quyền là cá nhân thì văn bản uỷ quyền phải được cơ quan công chứng Nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực. Nếu đương sự uỷ quyền là pháp nhân thì văn bản uỷ quyền phải được người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chứng nhận và có đóng dấu của pháp nhân. Trong trường hợp người uỷ quyền có thay đổi yêu cầu về phạm vi uỷ quyền cho người được uỷ quyền, thì cũng phải làm thành văn bản và có chứng thực hoặc chứng nhận như khi uỷ quyền.

2. Quy định cụ thể về người đại diện do uỷ quyền, người bảo vệ quyền lợi của đương sự được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cụ thể là Toà án không chấp nhận những người thuộc một trong những trường hợp sau đây tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện do đương sự uỷ quyền, người bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự:

a) Không có quốc tịch Việt Nam, không cư trú ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với đương sự là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài;

b) Chưa đủ 18 tuổi;

c) Bị bệnh tâm thần;

d) Đã bị khởi tố về hình sự hoặc bị kết án, nhưng chưa được xoá án;

đ) Là cán bộ ngành Toà án, ngành Kiểm sát;

e) Là người giám định, người phiên dịch, người làm chứng trong vụ án;

g) Là người thân thích với Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên đang tham gia giải quyết vụ án;

h) Chuyên viên tư vấn pháp luật của Văn phòng dịch vụ pháp lý (theo hướng dẫn tại Thông tư số 1119 - QLTPK ngày 24-12-1987 và Công văn số 870/CV/QVLL ngày 26-10-1989 của Bộ tư pháp).

Một người chỉ có thể tham gia tố tụng với một tư cách hoặc là người đại diện do đương sự uỷ quyền hoặc là người bảo vệ quyền lợi cho đương sự, chứ không được tham gia tố tụng cùng một lúc với hai cách vừa là người đại diện do đương sự uỷ quyền vừa là người bảo vệ quyền lợi cho đương sự.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Công văn 442/KHXX năm 1994
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1, 2, 3 Mục IV Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
IV - VỀ VIỆC XÁC MINH, THU THẬP CHỨNG CỨ VÀ HOÀ GIẢI:

1. Theo quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh thì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, theo các điều 4, 35, 65 của Pháp lệnh thì khi cần thiết Toà án có thể tiến hành hoặc uỷ thác cho Toà án khác xác minh, thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác. Việc xác minh, thu thập chứng cứ bao gồm những việc đã được quy định cụ thể tại Điều 35 của Pháp lệnh.

2. Khi uỷ thác cho các Toà án khác xác minh, thu thập thêm chứng cứ, thì phải xác định rõ nội dung và thời hạn thực hiện uỷ thác. Toà án được uỷ thác thực hiện ngay sự uỷ thác và thông báo kết quả cho Toà án đã uỷ thác trong thời hạn do Toà án đã uỷ thác yêu cầu. Nếu thấy rằng việc xác minh, thu thập chứng cứ cần được uỷ thác tiếp cho Toà án khác thì Toà án được uỷ thác có thể uỷ thác tiếp cho Toà án khác đó và thông báo cho Toà án uỷ thác biết về việc đó.

3. Trong trường hợp cần phải định giá tài sản có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp thì Toà án cần có công văn yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc thành lập Hội đồng định giá. Hội đồng định giá do Thẩm phán được phân công sẽ làm chủ toạ Hội đồng xét xử sơ thẩm làm Chủ tịch, có đại diện của cơ quan tài chính - vật giá, đại diện của cơ quan chuyên môn có liên quan làm thành viên. Các đương sự được tham gia ý kiến vào việc định giá, nhưng quyền quyết định về giá thuộc Hội đồng định giá.

Chi phí cho việc định giá được xác định trên cơ sở chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với các quy định của Nhà nước và do người thua kiện phải chịu.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1, 2, 3 Mục IV Công văn 442/KHXX năm 1994
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1, 2, 3 Mục IV Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.
...
Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
IV - VỀ VIỆC XÁC MINH, THU THẬP CHỨNG CỨ VÀ HOÀ GIẢI:

1. Theo quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh thì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, theo các điều 4, 35, 65 của Pháp lệnh thì khi cần thiết Toà án có thể tiến hành hoặc uỷ thác cho Toà án khác xác minh, thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác. Việc xác minh, thu thập chứng cứ bao gồm những việc đã được quy định cụ thể tại Điều 35 của Pháp lệnh.

2. Khi uỷ thác cho các Toà án khác xác minh, thu thập thêm chứng cứ, thì phải xác định rõ nội dung và thời hạn thực hiện uỷ thác. Toà án được uỷ thác thực hiện ngay sự uỷ thác và thông báo kết quả cho Toà án đã uỷ thác trong thời hạn do Toà án đã uỷ thác yêu cầu. Nếu thấy rằng việc xác minh, thu thập chứng cứ cần được uỷ thác tiếp cho Toà án khác thì Toà án được uỷ thác có thể uỷ thác tiếp cho Toà án khác đó và thông báo cho Toà án uỷ thác biết về việc đó.

3. Trong trường hợp cần phải định giá tài sản có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp thì Toà án cần có công văn yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc thành lập Hội đồng định giá. Hội đồng định giá do Thẩm phán được phân công sẽ làm chủ toạ Hội đồng xét xử sơ thẩm làm Chủ tịch, có đại diện của cơ quan tài chính - vật giá, đại diện của cơ quan chuyên môn có liên quan làm thành viên. Các đương sự được tham gia ý kiến vào việc định giá, nhưng quyền quyết định về giá thuộc Hội đồng định giá.

Chi phí cho việc định giá được xác định trên cơ sở chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với các quy định của Nhà nước và do người thua kiện phải chịu.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1, 2, 3 Mục IV Công văn 442/KHXX năm 1994
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục IV Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
IV - VỀ VIỆC XÁC MINH, THU THẬP CHỨNG CỨ VÀ HOÀ GIẢI:
...
4. Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của Pháp lệnh, thì nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có mặt khi hoà giải. Tuy nhiên, nếu trong cùng một vụ án có nhiều đương sự, nhưng khi tiến hành hoà giải có đương sự vắng mặt, thì Toà án vẫn có quyền tiến hành hoà giải giữa các đương sự có mặt nếu xét thấy việc hoà giải đó không có liên quan hoặc không có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự vắng mặt.

Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thì toà án lập biên bản hoà giải thành và ra Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Toà án cần giải thích cho các đương sự biết là quyết định này có hiệu lực pháp luật, các đương sự không có quyền kháng cáo và Viện Kiểm sát cũng không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Mẫu Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự tương tự mẫu loại Quyết định này trong việc giải quyết các vụ án dân sự.

Trong trường hợp các đương sự không thể thoả thuận với nhau được, thì Toà án lập biên bản hoà giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Cần chú ý là biên bản hoà giải thành, biên bản hoà giải không thành phải được Thẩm phán tiến hành hoà giải, Thư ký Toà án ghi biên bản và các đương sự ký tên.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục IV Công văn 442/KHXX năm 1994
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục V Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
V - VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

1. Trong trường hợp Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo đơn yêu cầu của đương sự, nếu đương sự có lỗi trong việc gây thiệt hại thì phải bồi thường. Mức bồi thường do các đương sự tự thoả thuận với nhau; nếu các đương sự không thoả thuận được và có yêu cầu Toà án giải quyết thì Toà án đang giải quyết vụ án kinh tế đó quyết định căn cứ vào mức độ lỗi và thiệt hại thực tế xảy ra. Trong trường hợp này các đương sự phải chịu án phí cả đối với việc giải quyết phần bồi thường thiệt hại có tranh chấp theo quy định chung về án phí kinh tế.

Trong trường hợp Toà án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật mà gây thiệt hại cho đương sự, thì Toà án hoặc Viện kiểm sát có lỗi trong việc gây thiệt hại, phải bồi thường. Trong trường hợp này Toà án cần phải làm rõ trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm vật chất đối với những người có lỗi trong việc gây thiệt hại mà cơ quan đã phải bồi thường cho đương sự, để có hình thức kỷ luật thoả đáng và buộc bồi hoàn khoản tiền mà cơ quan đã phải bồi thường cho đương sự.

2. Nếu trước khi mở phiên toà, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và nếu tại phiên toà Hội đồng xét xử ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong toả tài khoản của đương sự, thì bản sao quyết định đó phải được gửi cho Ngân hàng, kho bạc Nhà nước nơi đương sự mở tài khoản.

3. Trong trường hợp ra quyết định cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác thực hiện một số hành vi nhất định, thì trong quyết định cần ghi cụ thể những hành vi cấm thực hiện, những hành vi buộc phải thực hiện, thời hạn phải chấm dứt hoặc phải thực hiện xong, thời hạn có hiệu lực của quyết định và trách nhiệm đối với việc không thi hành quyết định đó.

Xem nội dung VB
- Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển nước ngoài được hướng dẫn bởi Khoản 7 Công văn 11-KHXX năm 1996

Qua hơn một năm thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền, Toà án nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tốt những tranh chấp kinh tế, góp phần ổn định trật tự sản xuất kinh doanh và củng cố việc sản xuất kinh doanh tuân theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng còn những vướng mắc, nhất là khi pháp luật chưa thống nhất, nhiều văn bản có những quy định không còn phù hợp nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung, do đó dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau nên một số vụ án phải giải quyết nhiều lần, tính thuyết phục không cao, nhiều Toà án địa phương đã có văn bản phản ánh những vấn đề vướng mắc về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của Toà án nhân dân, cũng như một số vướng mắc khác trong việc thụ lý giải quyết các vụ án kinh tế. Để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề đó như sau:
...
7.Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển của nước ngoài để giải quyết tranh chấp trong giao nhận hàng hoá từ tàu biển nước ngoài

Điều 36 Bộ luật hàng hải quy định là chỉ sau khi đã thụ lý để giải quyết việc tranh chấp thì Toà án mới có quyền ra lệnh bắt giữ tàu biển để bảo đảm cho việc giải quyết tranh chấp đó. Vì vậy, chỉ sau khi đã thụ lý vụ án kinh tế hay vụ án dân sự, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền ra quyết định bắt giữ tàu biển với tính chất là biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp cần thiết, cụ thể là:

a) Trong trường hợp pháp nhân của Việt Nam ký hợp đồng vận chuyển với chủ tàu nước ngoài, nếu có tranh chấp thì Toà án nhân dân giải quyết theo các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và việc bắt giữ tàu biển với tính chất là biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong trường hợp cần thiết.

b) Trong trường hợp cá nhân, pháp nhân của Việt Nam ký kết hợp đồng mua hàng hoá của cá nhân, pháp nhân nước ngoài, mà bên nước ngoài thuê tàu biển vận chuyển để giao hàng cho bên Việt Nam, nếu chủ hàng không chịu giao hàng theo vận đơn, giao hàng thiếu hoặc để hàng hư hỏng, thì bên Việt Nam có quyền khởi kiện chủ tàu tại Toà án nhân dân để bảo vệ quyền sở hữu của mình. Toà án nhân dân giải quyết loại tranh chấp này theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và việc bắt giữ tàu biển với tính chất là biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong trường hợp cần thiết. Hướng dẫn này cũng được áp dụng đối với trường hợp cá nhân ở Việt Nam ký kết hợp đồng vận chuyển với chủ tàu nước ngoài.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
II- VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ
1. Theo quy định tại Điều 41 của Pháp lệnh thì bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ bằng chứng, bảo đảm việc thi hành án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình, nếu có lỗi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Toà án xem xét trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày có yêu cầu. Nếu chấp nhận yêu cầu, thì Toà án ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Để bảo vệ quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời bảo đảm tính đúng đắn chính xác các quyết định của Toà án và khả năng thi hành khi có hậu quả pháp lý xảy ra (thiệt hại do việc có lỗi), Toà án cần giải thích cho đương sự có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời biết rõ quy định tại Điều 41 của Pháp lệnh, đồng thời xem xét khả năng thực tế bồi thường thiệt hại của họ, nếu họ có lỗi trong việc gây ra thiệt hại. Nếu kết quả cho thấy đương sự vẫn yêu cầu và họ có khả năng bồi thường thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra do lỗi của họ), thì Toà án cần chấp nhận đơn yêu cầu của họ. Nếu kết quả cho thấy đương sự vẫn yêu cầu, nhưng họ không có khả năng bồi thường thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra do lỗi của họ), thì Toà án chỉ chấp nhận đơn yêu cầu khi tự mình nhận thấy việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cần thiết, nếu không thì không chấp nhận.

Đối với yêu cầu của Viện kiểm sát thì Điều 41 của Pháp lệnh quy định: "... Toà án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải chịu trách nhiệm về quyết định. Nếu do quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường". Theo tinh thần của quy định này, thì Toà án phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình; do đó, Toà án cần phải xem xét một cách đầy đủ, toàn diện và có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo thẩm quyền của mình. Trong trường hợp Toà án không chấp nhận, thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án về quyết định đó của Toà án. Chánh án Toà án phải xem xét và trả lời trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 44 của Pháp lệnh.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục V Công văn 442/KHXX năm 1994
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển nước ngoài được hướng dẫn bởi Khoản 7 Công văn 11-KHXX năm 1996
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Mục VI Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
VI - VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ QUÁ HẠN

Theo quy định tại khoản 3 Điều 61 của Pháp lệnh, nếu kháng cáo, kháng nghị quá hạn vì trở ngại khách quan, thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị là mười ngày, kể từ ngày trợ ngại đó không còn nữa. Được coi là có trở ngại khách quan trong các trường hợp sau đây:

a) Người có quyền kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng chưa nhận được bản sao bản án, quyết định của Toà án mà không phải do lỗi của họ;

b) Đương sự vắng mặt trong một thời gian dài do yêu cầu công tác, chữa bệnh hoặc vì lý do chính đáng khác;

c) Đương sự là cá nhân có đăng ký kinh doanh bị chết mà chưa xác định được người thừa kế; đương sự là pháp nhân bị giải thể hoặc phá sản mà chưa xác định được cá nhân, pháp nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của pháp nhân đó.

d) Do thiên tai, hoả hoạn làm cho việc kháng cáo không thể thực hiện được đúng hạn.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục VI Công văn 442/KHXX năm 1994
- Một số vấn đề đáng chú ý được hướng dẫn bởi Mục VII Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
VII - VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐÁNG CHÚ Ý

1. Việc giải quyết các vụ án kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp và rất quan trọng đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, do đó, đòi hỏi Toà án phải giải quyết thật khẩn trương. Thời hạn giải quyết vụ án kinh tế quy định trong Pháp lệnh ngắn hơn nhiều so với các thời hạn giải quyết các vụ án dân sự. Do đó, các Toà án cần chú ý thi hành đúng các quy định sau đây của Pháp lệnh về vấn đề thời hạn: các điều 31, 33 về thời hạn khởi kiện và thụ lý vụ án; Điều 34 về thời hạn chuẩn bị xét xử; Điều 44 về thời hạn giải quyết khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; các điều 56, 57 về biên bản phiên toà, cấp trích lục, bản sao bản án hoặc quyết định; các điều 61, 66, 72, 73 về thủ tục phúc thẩm; Điều 77 về thời hạn kháng nghị và thời hạn xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm; các điều 83, 84 về thời hạn kháng nghị và thời hạn xét xử theo thủ tục tái thẩm.

2. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, nếu nhận được thông báo của Viện kiểm sát về việc tham gia phiên toà sơ thẩm thì Toà án chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu trong thời hạn năm ngày. Hết thời hạn đó Viện kiểm sát phải trả ngay hồ sơ vụ án cho Toà án để mở phiên toà (Điều 34 của Pháp lệnh).

3. Các điều 24, 25, 26 của Pháp lệnh đã quy định cụ thể về người phải chịu chi phí giám định, người phải chịu chi phí cho người làm chứng, người phải chịu chi phí phiên dịch, nhưng không quy định về mức của các khoản chi phí này. Mức chi phí giám định, chi phí cho người làm chứng, chi phí phiên dịch do người phải chịu chi phí giám định, người phải chịu chi phí phiên dịch thoả thuận với người giám định, người làm chứng, người phiên dịch. Nếu các bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án quyết định trên cơ sở chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với các quy định của Nhà nước.

4. Việc nhận tiền, tài sản, tiền tạm ứng án phí và các khoản tiền tạm ứng khác do người có nghĩa vụ phải nộp theo các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế trước khi Toà án thụ lý, xét xử vụ án kinh tế tạm thời được thực hiện theo hướng dẫn tại mục III Thông tư liên ngành số 981/TTLN ngày 21-9-1993 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "hướng dẫn về việc thực hiện một số suy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự".

5. Các Toà án cần thực hiện đúng các quy định của Pháp lệnh về việc cấp bản sao bản án, bản sao các quyết định của Toà án cho các đương sự, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và những người khác có liên quan, cơ quan hữu quan khác.

Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc tuy chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng được thi hành ngay thuộc trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án (Điều 20 Pháp lệnh Thi hành án dân sự) thì Toà án cần gửi cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp bản sao bản án, quyết định đó.

6. Về án phí kinh tế và lệ phí tại Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế sẽ được Chính phủ quy định cụ thể trong một Nghị định riêng. Sau khi có Nghị định của Chính phủ về vấn đề này Toà án nhân dân tối cao sẽ phối hợp với các ngành có liên quan như Bộ Tài chính, Bô Tư pháp ban hành Thông tư liên ngành hướng dẫn thực hiện các quy định của Pháp lệnh và của Nghị định về án phí, lệ phí.

Ngoài ra còn có một số vấn đề khác như mối quan hệ giữa Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế, mối quan hệ giữa Toà án nhân dân với các cơ quan thi hành án trong việc thi hành các bản án, quyết định kinh tế v.v... Tòa án nhân dân tối cao sẽ phối hợp với các ngành có liên quan ban hành Thông tư liên ngành hướng dẫn cụ thể.

7. Việc giải quyết các tranh chấp kinh tế với Toà án nhân dân là một vấn đề mới, các đồng chí Chánh án các Toà án nhân dân các cấp cần có tổ chức cho các Thẩm phán và các bộ nghiên cứu của Toà án, đặc biệt là các thẩm phán và cán bộ nghiên cứu của Toà án được phân công làm nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp kinh tế nghiên cứu kỹ các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và các điểm được lưu ý trong công văn này.

Xem nội dung VB
Một số vấn đề đáng chú ý được hướng dẫn bởi Mục VII Công văn 442/KHXX năm 1994
- Một số vấn đề đáng chú ý được hướng dẫn bởi Mục VII Công văn 442/KHXX năm 1994

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994....Để việc thi hành các quy định của Pháp lệnh này được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm sau đây:
...
VII - VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐÁNG CHÚ Ý

1. Việc giải quyết các vụ án kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp và rất quan trọng đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, do đó, đòi hỏi Toà án phải giải quyết thật khẩn trương. Thời hạn giải quyết vụ án kinh tế quy định trong Pháp lệnh ngắn hơn nhiều so với các thời hạn giải quyết các vụ án dân sự. Do đó, các Toà án cần chú ý thi hành đúng các quy định sau đây của Pháp lệnh về vấn đề thời hạn: các điều 31, 33 về thời hạn khởi kiện và thụ lý vụ án; Điều 34 về thời hạn chuẩn bị xét xử; Điều 44 về thời hạn giải quyết khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; các điều 56, 57 về biên bản phiên toà, cấp trích lục, bản sao bản án hoặc quyết định; các điều 61, 66, 72, 73 về thủ tục phúc thẩm; Điều 77 về thời hạn kháng nghị và thời hạn xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm; các điều 83, 84 về thời hạn kháng nghị và thời hạn xét xử theo thủ tục tái thẩm.

2. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, nếu nhận được thông báo của Viện kiểm sát về việc tham gia phiên toà sơ thẩm thì Toà án chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu trong thời hạn năm ngày. Hết thời hạn đó Viện kiểm sát phải trả ngay hồ sơ vụ án cho Toà án để mở phiên toà (Điều 34 của Pháp lệnh).

3. Các điều 24, 25, 26 của Pháp lệnh đã quy định cụ thể về người phải chịu chi phí giám định, người phải chịu chi phí cho người làm chứng, người phải chịu chi phí phiên dịch, nhưng không quy định về mức của các khoản chi phí này. Mức chi phí giám định, chi phí cho người làm chứng, chi phí phiên dịch do người phải chịu chi phí giám định, người phải chịu chi phí phiên dịch thoả thuận với người giám định, người làm chứng, người phiên dịch. Nếu các bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án quyết định trên cơ sở chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với các quy định của Nhà nước.

4. Việc nhận tiền, tài sản, tiền tạm ứng án phí và các khoản tiền tạm ứng khác do người có nghĩa vụ phải nộp theo các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế trước khi Toà án thụ lý, xét xử vụ án kinh tế tạm thời được thực hiện theo hướng dẫn tại mục III Thông tư liên ngành số 981/TTLN ngày 21-9-1993 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "hướng dẫn về việc thực hiện một số suy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự".

5. Các Toà án cần thực hiện đúng các quy định của Pháp lệnh về việc cấp bản sao bản án, bản sao các quyết định của Toà án cho các đương sự, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và những người khác có liên quan, cơ quan hữu quan khác.

Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc tuy chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng được thi hành ngay thuộc trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án (Điều 20 Pháp lệnh Thi hành án dân sự) thì Toà án cần gửi cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp bản sao bản án, quyết định đó.

6. Về án phí kinh tế và lệ phí tại Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế sẽ được Chính phủ quy định cụ thể trong một Nghị định riêng. Sau khi có Nghị định của Chính phủ về vấn đề này Toà án nhân dân tối cao sẽ phối hợp với các ngành có liên quan như Bộ Tài chính, Bô Tư pháp ban hành Thông tư liên ngành hướng dẫn thực hiện các quy định của Pháp lệnh và của Nghị định về án phí, lệ phí.

Ngoài ra còn có một số vấn đề khác như mối quan hệ giữa Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế, mối quan hệ giữa Toà án nhân dân với các cơ quan thi hành án trong việc thi hành các bản án, quyết định kinh tế v.v... Tòa án nhân dân tối cao sẽ phối hợp với các ngành có liên quan ban hành Thông tư liên ngành hướng dẫn cụ thể.

7. Việc giải quyết các tranh chấp kinh tế với Toà án nhân dân là một vấn đề mới, các đồng chí Chánh án các Toà án nhân dân các cấp cần có tổ chức cho các Thẩm phán và các bộ nghiên cứu của Toà án, đặc biệt là các thẩm phán và cán bộ nghiên cứu của Toà án được phân công làm nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp kinh tế nghiên cứu kỹ các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và các điểm được lưu ý trong công văn này.

Xem nội dung VB
Một số vấn đề đáng chú ý được hướng dẫn bởi Mục VII Công văn 442/KHXX năm 1994
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Công văn 11-KHXX năm 1996

Qua hơn một năm thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền, Toà án nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tốt những tranh chấp kinh tế, góp phần ổn định trật tự sản xuất kinh doanh và củng cố việc sản xuất kinh doanh tuân theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng còn những vướng mắc, nhất là khi pháp luật chưa thống nhất, nhiều văn bản có những quy định không còn phù hợp nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung, do đó dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau nên một số vụ án phải giải quyết nhiều lần, tính thuyết phục không cao, nhiều Toà án địa phương đã có văn bản phản ánh những vấn đề vướng mắc về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của Toà án nhân dân, cũng như một số vướng mắc khác trong việc thụ lý giải quyết các vụ án kinh tế. Để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề đó như sau:
...
2. Về hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh do chi nhánh của pháp nhân giao kết

Trong trường hợp chi nhánh của pháp nhân giao kết hợp đồng với một bên khác, khi xảy ra tranh chấp, Toà án cần phân biệt các trường hợp sau đây:

a) Nếu chi nhánh được sự uỷ quyền hợp pháp của người đứng đầu pháp nhân ký hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh thì đó là hợp đồng kinh tế hợp pháp, khi xảy ra tranh chấp thì Toà án nhân dân giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

b) Nếu chi nhánh nhân danh pháp nhân ký hợp đồng mà không được sự uỷ quyền hợp pháp của người đứng đầu pháp nhân, thì hợp đồng đó là vô hiệu theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, và khi xảy ra tranh chấp thì Toà án nhân dân giải quyết theo pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

c) Nếu chi nhánh không nhân danh pháp nhân mà tự mình giao kết hợp đồng thì đó chỉ là hợp đồng dân sự. Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này do Toà án nhân dân giải quyết theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Công văn 11-KHXX năm 1996
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Công văn 11-KHXX năm 1996

Qua hơn một năm thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền, Toà án nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tốt những tranh chấp kinh tế, góp phần ổn định trật tự sản xuất kinh doanh và củng cố việc sản xuất kinh doanh tuân theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng còn những vướng mắc, nhất là khi pháp luật chưa thống nhất, nhiều văn bản có những quy định không còn phù hợp nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung, do đó dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau nên một số vụ án phải giải quyết nhiều lần, tính thuyết phục không cao, nhiều Toà án địa phương đã có văn bản phản ánh những vấn đề vướng mắc về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của Toà án nhân dân, cũng như một số vướng mắc khác trong việc thụ lý giải quyết các vụ án kinh tế. Để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề đó như sau:
...
3.Về tranh chấp kinh tế có nhân tố nước ngoài.

Theo Điều 87 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì các tranh chấp kinh tế tại Việt Nam, nếu một hoặc các bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài đều được giải quyết theo các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Theo quy định tại Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Toà án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế sau đây:

a) Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh được ký kết giữa một bên là pháp nhân Việt Nam với một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, không phân biệt việc pháp nhân đó có trụ sở hay không có trụ sở tại Việt Nam, cá nhân đó có cư trú tại Việt Nam hay không.

b) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty;

c) Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phtếu, trái phiếu.

d) Các tranh chấp kinh tế khác mà pháp luật có quy định.

Các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh giữa các bên đều là cá nhân nước ngoài, đều là pháp nhân nước ngoài hoặc giữa một bên là pháp nhân nước ngoài với một bên là cá nhân nước ngoài do Toà án nhân dân giải quyết theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, vì theo quy định của Điều 43 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế thì các hợp đồng đó không phải là hợp đồng kinh tế.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
III- VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC.
...
4. Khi thi hành quy định tại Điều 87 của Pháp lệnh về việc giải quyết các tranh chấp kinh tế có nhân tố nước người, Toà án cần lưu ý:

a) Theo quy định tại Điều 13 của Pháp lệnh, thì việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tất cả các vụ án kinh tế quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh khi có một hoặc các bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài là thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

b) Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác khi có một hoặc các bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài thì không được áp dụng các quy định của Pháp lệnh để giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Việt Nam. Việc giải quyết các tranh chấp kinh tế trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

c) Các tranh chấp kinh tế tại Việt Nam bao gồm:

- Tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng kinh tế tại Việt Nam không phụ thuộc vào hợp đồng kinh tế đó được ký kết tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài. Cũng cần lưu ý là trong trường hợp hợp đồng kinh tế được ký kết tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài, nhưng một phần hợp đồng kinh tế được thực hiện tại Việt Nam, một phần hợp đồng kinh tế được thực hiện ở nước ngoài, nếu có tranh chấp hợp đồng kinh tế, thì Toà án chỉ thụ lý giải quyết tranh chấp về việc thực hiện phần hợp đồng kinh tế tại Việt Nam.

- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty tại Việt Nam.

- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu tại Việt Nam.

- Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và xảy ra tại Việt Nam.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Công văn 11-KHXX năm 1996
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Công văn 11-KHXX năm 1996

Qua hơn một năm thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền, Toà án nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tốt những tranh chấp kinh tế, góp phần ổn định trật tự sản xuất kinh doanh và củng cố việc sản xuất kinh doanh tuân theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng còn những vướng mắc, nhất là khi pháp luật chưa thống nhất, nhiều văn bản có những quy định không còn phù hợp nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung, do đó dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau nên một số vụ án phải giải quyết nhiều lần, tính thuyết phục không cao, nhiều Toà án địa phương đã có văn bản phản ánh những vấn đề vướng mắc về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của Toà án nhân dân, cũng như một số vướng mắc khác trong việc thụ lý giải quyết các vụ án kinh tế. Để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề đó như sau:
...
4.Vấn đề hoà giải trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế

a) Hoà giải trong quá trình giải quyết vụ án xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu.

Pháp lệnhThủ tục giải quyết vụ án kinh tế không qui định những vụ việc nào không được hoà giải. Trong thực tế việc hoà giải đã góp phần giải quyết vụ án được thuận lợi và nhanh chóng, cho nên việc hoà giải trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế kể cả việc xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu là không trái pháp luật. Nhưng đối với việc xử lý hợp đồng vô hiệu chỉ được hoà giải để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu chứ không được hoà giải để giải quyết việc coi đó là hợp đồng vô hiệu hay không vô hiệu và càng không thể hoà giải để tiếp tục thực hiện hợp đồng. Trường hợp chi nhánh của pháp nhân nhân danh pháp nhân ký kết hợp đồng không được uỷ quyền hợp pháp của người đứng đầu pháp nhân mà nội dung của hợp đồng đó không trái pháp luật, việc thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng phù hợp với đăng ký kinh doanh của các bên, thì Toà án có thể hoà giải để các bên chấp nhận hợp đồng và định cho họ một thời hạn phù hợp để họ hoàn tất hợp đồng theo quy định của pháp luật. Nếu các bên vẫn yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu hoặc sau khi đã hết thời hạn mà Toà án ấn định để hoàn tất hợp đồng mà không hoàn tất hợp đồng theo quy định của pháp luật thì Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

b) Trường hợp không thể tiến hành hoà giải được do bị đơn cố tình vắng mặt khi hoà giải, thì Toà án cần lập biên bản về sự cố tình vắng mặt đó của bị đơn, sau đó làm thủ tục thông báo cần thiết theo quy định của pháp luật như: niêm yết giấy báo công khai hay thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.. Nếu đương sự vắng mặt đến lần thứ hai khi hoà giải thì Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Toà án chỉ tiến hành hoà giải tại phiên toà nếu bị đơn có mặt.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Công văn 11-KHXX năm 1996
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Công văn 11-KHXX năm 1996

Qua hơn một năm thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền, Toà án nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tốt những tranh chấp kinh tế, góp phần ổn định trật tự sản xuất kinh doanh và củng cố việc sản xuất kinh doanh tuân theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng còn những vướng mắc, nhất là khi pháp luật chưa thống nhất, nhiều văn bản có những quy định không còn phù hợp nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung, do đó dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau nên một số vụ án phải giải quyết nhiều lần, tính thuyết phục không cao, nhiều Toà án địa phương đã có văn bản phản ánh những vấn đề vướng mắc về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của Toà án nhân dân, cũng như một số vướng mắc khác trong việc thụ lý giải quyết các vụ án kinh tế. Để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề đó như sau:
...
5.Vấn đề tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi bị đơn bỏ trốn.

Trong trường hợp đã thụ lý vụ án kinh tế mà chưa tìm được địa chỉ của bị đơn hoặc bị đơn bỏ trốn nên chưa lấy được lời khai của bị đơn thì áp dụng khoản 1 Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu sau khi thụ lý vụ án, đã lấy được lời khai của bị đơn mà bị đơn bỏ trốn thì đưa vụ án ra xét xử theo hướng dẫn tại điểm b mục 4 Công văn này.

Trường hợp phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án mà thấy cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Toà án phải ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước rồi mới ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án thì biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn có hiệu lực thi hành.

Nếu việc bỏ trốn của bị đơn có dấu hiệu của tội phạm thì Toà án cần làm văn bản kiến nghị và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để khởi tố vụ án hình sự.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Công văn 11-KHXX năm 1996
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Công văn 11-KHXX năm 1996

Qua hơn một năm thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền, Toà án nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tốt những tranh chấp kinh tế, góp phần ổn định trật tự sản xuất kinh doanh và củng cố việc sản xuất kinh doanh tuân theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng còn những vướng mắc, nhất là khi pháp luật chưa thống nhất, nhiều văn bản có những quy định không còn phù hợp nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung, do đó dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau nên một số vụ án phải giải quyết nhiều lần, tính thuyết phục không cao, nhiều Toà án địa phương đã có văn bản phản ánh những vấn đề vướng mắc về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của Toà án nhân dân, cũng như một số vướng mắc khác trong việc thụ lý giải quyết các vụ án kinh tế. Để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề đó như sau:
...
5.Vấn đề tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi bị đơn bỏ trốn.

Trong trường hợp đã thụ lý vụ án kinh tế mà chưa tìm được địa chỉ của bị đơn hoặc bị đơn bỏ trốn nên chưa lấy được lời khai của bị đơn thì áp dụng khoản 1 Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu sau khi thụ lý vụ án, đã lấy được lời khai của bị đơn mà bị đơn bỏ trốn thì đưa vụ án ra xét xử theo hướng dẫn tại điểm b mục 4 Công văn này.

Trường hợp phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án mà thấy cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Toà án phải ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước rồi mới ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án thì biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn có hiệu lực thi hành.

Nếu việc bỏ trốn của bị đơn có dấu hiệu của tội phạm thì Toà án cần làm văn bản kiến nghị và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để khởi tố vụ án hình sự.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Công văn 11-KHXX năm 1996
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:

I- VỀ THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN

1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Pháp lệnh thì thời hiệu khởi kiện các vụ án kinh tế (quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh) để yêu cầu Toà án giải quyết là sáu tháng, kể từ ngày phát sinh tranh chấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quy định này được thống nhất áp dụng đối với mọi tranh chấp kinh tế phát sinh từ ngày 1-7-1994 trở đi.

Quy định "trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" cần được hiểu là trong một văn bản pháp luật nào đó có quy định loại tranh chấp nào đó là tranh chấp kinh tế và buộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân, đồng thời có quy định thời hiệu khởi kiện và cách tính thời hiệu khởi kiện khác với quy định tại khoản 1 Điều 31 của Pháp lệnh thì áp dụng thời hiệu khởi kiện và cách tính thời hiệu khởi kiện quy định trong văn bản pháp luật đó mà không áp dụng quy định "thời hiệu khởi kiện là sáu tháng, kể từ ngày phát sinh tranh chấp".

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:

I- VỀ THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN

1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Pháp lệnh thì thời hiệu khởi kiện các vụ án kinh tế (quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh) để yêu cầu Toà án giải quyết là sáu tháng, kể từ ngày phát sinh tranh chấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quy định này được thống nhất áp dụng đối với mọi tranh chấp kinh tế phát sinh từ ngày 1-7-1994 trở đi.

Quy định "trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" cần được hiểu là trong một văn bản pháp luật nào đó có quy định loại tranh chấp nào đó là tranh chấp kinh tế và buộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân, đồng thời có quy định thời hiệu khởi kiện và cách tính thời hiệu khởi kiện khác với quy định tại khoản 1 Điều 31 của Pháp lệnh thì áp dụng thời hiệu khởi kiện và cách tính thời hiệu khởi kiện quy định trong văn bản pháp luật đó mà không áp dụng quy định "thời hiệu khởi kiện là sáu tháng, kể từ ngày phát sinh tranh chấp".

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
I- VỀ THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN
...
3. Việc xác định ngày bắt đầu và ngày kết thúc của thời hiệu khởi kiện là rất quan trọng để thực hiện đúng các quy định của Pháp lệnh về việc trả lại đơn kiện (Điều 39, khoản 1, điểm d). Ngày bắt đầu của thời hiệu khởi kiện là ngày phát sinh tranh chấp và được xác định phụ thuộc vào từng loại tranh chấp kinh tế; cụ thể như sau:

a) Đối với các tranh chấp về hợp đồng kinh tế:

- Nếu trong thời gian hợp đồng kinh tế đang có hiệu lực mà một trong các bên phát hiện có vi phạm và làm phát sinh tranh chấp, thì ngày phát sinh tranh chấp là ngày phát hiện việc vi phạm.

- Nếu hợp đồng kinh tế đã hết hiệu lực mà các bên không có thoả thuận nào khác và phát sinh tranh chấp, thì ngày phát sinh tranh chấp là ngày tiếp theo của ngày hợp đồng kinh tế đó hết hiệu lực.

- Nếu trước ngày hợp đồng kinh tế hết hiệu lực hoặc vào ngày cuối cùng hợp đồng kinh tế còn hiệu lực mà các bên có thoả thuận về thời hạn thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng kinh tế mà hết thời hạn đó, một trong các bên không thực hiện và làm phát sinh tranh chấp thì ngày phát sinh tranh chấp về việc thực hiện thoả thuận là ngày tiếp theo của ngày hết thời hạn thực hiện thoả thuận đó. Trong trường hợp này có đương sự yêu cầu giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng kinh tế thì Toà án thụ lý giải quyết nếu tính từ ngày hợp đồng kinh tế hết hiệu lực đến ngày khởi kiện chưa hết thời hạn sáu tháng. Nếu đã hết thời hạn sáu tháng, thì Toà án không thụ lý giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng kinh tế, mà chỉ thụ lý giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ do các bên đã thoả thuận. Khi thụ lý giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ do các bên đã thoả thuận các Toà án lưu ý và phân biệt là tuỳ theo tính chất, nội dung thoả thuận và yêu cầu cụ thể của đương sự mà xác định đó là vụ án kinh tế hay vụ án dân sự để thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế hoặc theo thủ tục tố tụng dân sự.

b) Đối với các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty thì ngày phát sinh tranh chấp là ngày có biên bản cuộc họp của công ty, đơn của thành viên công ty, trong đó ghi nhận việc biết hoặc phát hiện có vi phạm liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty và dẫn đến tranh chấp.

c) Đối với các tranh chấp liên quan đến việc mua, bán cổ phiếu, trái phiếu, thì ngày phát sinh tranh chấp là ngày đương sự phát hiện có sự vi phạm trong việc mua, bán cổ phiếu, trái phiếu (kể cả việc chuyển nhượng) và dẫn đến tranh chấp.

Thời hiệu khởi kiện sáu tháng các vụ án kinh tế kết thúc vào ngày tương ứng của tháng thứ sáu, kể từ ngày phát sinh tranh chấp; ví dụ: ngày phát sinh tranh chấp (bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện) là ngày 12-10-1994, thì ngày kết thúc thời hiệu khởi kiện là ngày 12-4-1995. Nếu ngày cuối cùng của thời hiệu khởi kiện trùng với ngày nghỉ (chủ nhật, ngày lễ, ngày tết) thì ngày cuối cùng của thời hiệu khởi kiện là ngày làm việc tiếp theo ngay sau ngày nghỉ. Nếu tháng thứ sáu không có ngày tương ứng thì thời hiệu khởi kiện kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó; ví dụ: ngày phát sinh tranh chấp là ngày 31-8-1994, thì ngày kết thúc thời hiệu khởi kiện là ngày 28-2-1995.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
I- VỀ THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN
...
5. Cách tính các thời hạn quy định trong Pháp lệnh được thực hiện tương tự theo cách tính thời hiệu khởi kiện được hướng dẫn tại điểm 3 mục này. Tuy nhiên, Pháp lệnh chỉ quy định thời hạn để cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu hồ sơ là năm ngày để tham gia phiên toà sơ thẩm (khoản 3 Điều 34 của Pháp lệnh) và mười ngày để tham gia phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (khoản 1 Điều 68, khoản 1 Điều 76, khoản 2 Điều 83 của Pháp lệnh), mà không quy định kể từ ngày nào. Do đó, thời hạn năm ngày và mười ngày này được tính kể từ ngày tiếp theo ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án. Trong trường hợp ngày tiếp theo là ngày nghỉ (chủ nhật, ngày lễ, ngày tết), thì thời hạn năm ngày và mười ngày này được tính bắt đầu từ ngày làm việc đầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó. Hết các thời hạn nói trên Viện Kiểm sát trả ngay hồ sơ cho Toà án để Toà án chuẩn bị cho việc mở phiên toà đúng thời hạn luật định.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
I- VỀ THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN
...
5. Cách tính các thời hạn quy định trong Pháp lệnh được thực hiện tương tự theo cách tính thời hiệu khởi kiện được hướng dẫn tại điểm 3 mục này. Tuy nhiên, Pháp lệnh chỉ quy định thời hạn để cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu hồ sơ là năm ngày để tham gia phiên toà sơ thẩm (khoản 3 Điều 34 của Pháp lệnh) và mười ngày để tham gia phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (khoản 1 Điều 68, khoản 1 Điều 76, khoản 2 Điều 83 của Pháp lệnh), mà không quy định kể từ ngày nào. Do đó, thời hạn năm ngày và mười ngày này được tính kể từ ngày tiếp theo ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án. Trong trường hợp ngày tiếp theo là ngày nghỉ (chủ nhật, ngày lễ, ngày tết), thì thời hạn năm ngày và mười ngày này được tính bắt đầu từ ngày làm việc đầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó. Hết các thời hạn nói trên Viện Kiểm sát trả ngay hồ sơ cho Toà án để Toà án chuẩn bị cho việc mở phiên toà đúng thời hạn luật định.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
I- VỀ THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN
...
5. Cách tính các thời hạn quy định trong Pháp lệnh được thực hiện tương tự theo cách tính thời hiệu khởi kiện được hướng dẫn tại điểm 3 mục này. Tuy nhiên, Pháp lệnh chỉ quy định thời hạn để cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu hồ sơ là năm ngày để tham gia phiên toà sơ thẩm (khoản 3 Điều 34 của Pháp lệnh) và mười ngày để tham gia phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (khoản 1 Điều 68, khoản 1 Điều 76, khoản 2 Điều 83 của Pháp lệnh), mà không quy định kể từ ngày nào. Do đó, thời hạn năm ngày và mười ngày này được tính kể từ ngày tiếp theo ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án. Trong trường hợp ngày tiếp theo là ngày nghỉ (chủ nhật, ngày lễ, ngày tết), thì thời hạn năm ngày và mười ngày này được tính bắt đầu từ ngày làm việc đầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó. Hết các thời hạn nói trên Viện Kiểm sát trả ngay hồ sơ cho Toà án để Toà án chuẩn bị cho việc mở phiên toà đúng thời hạn luật định.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
II- VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ

1. Việc chuyển hồ sơ vụ án kinh tế giữa Viện kiểm sát và Toà án được thực hiện như sau:

a) Đối với các vụ án mà Viện kiểm sát có yêu cầu tham gia phiên toà sơ thẩm, thì ngay sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án gửi cho Viện kiểm sát quyết định đưa vụ án ra xét xử và hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nghiên cứu trong thời hạn năm ngày chuẩn bị cho việc tham gia phiên toà. Hồ sơ vụ án cũng có thể được chuyển cho Viện kiểm sát để nghiên cứu trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.

b) Trong những trường hợp bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà Viện kiểm sát cùng cấp thấy cần nghiên cứu hồ sơ vụ án để đề nghị Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc Viện kiểm sát cấp trên thấy cần xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thì Viện kiểm sát có công văn yêu cầu Toà án chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát mượn. Toà án chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát chậm nhất là hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được công văn yêu cầu.

Nếu Viện kiểm sát cấp trên yêu cầu Toà án chuyển hồ sơ vụ án, thì Toà án chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát cùng cấp chuyển cho Viện kiểm sát cấp trên.

Trong thời hạn hai tháng kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát chuyển trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án, nếu không có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

c) Mọi tài liệu có trong hồ sơ vụ án phải được đánh số thứ tự và có bản kê danh mục các tài liệu. Trước khi chuyển hồ sơ vụ án từ Toà án sang Viện kiểm sát hoặc ngược lại, cần kiểm tra đầy đủ tài liệu trong hồ sơ vụ án. Người nhận hồ sơ vụ án phải đối chiếu bản kê danh mục tài liệu với tài liệu đã được đánh số thứ tự trong hồ sơ vụ án.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
II- VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ
...
2. Theo tinh thần quy định tại khoản 1 Điều 28 của Pháp lệnh, thì việc kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh tế có thể bắt đầu từ khi Toà án thụ lý đơn kiện của đương sự. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm kể từ ngày Toà án thụ lý đơn kiện của đương sự cho đến trước ngày Toà án ra một trong các quyết định tại khoản 2 Điều 34 của Pháp lệnh, nếu xét thấy cần thiết thì Viện Kiểm sát có thể yêu cầu Toà án cho biết những điểm cụ thể nào đó có liên quan đến việc giải quyết vụ án kinh tế. Trong các trường hợp này Toà án có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu của Viện kiểm sát.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
II- VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ
...
3. Viện kiểm sát cùng cấp phải cử Kiểm sát viên tham gia phiên toà phúc thẩm trong trường hợp Viện Kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm hoặc có quyết định tham gia phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm. Nếu có quyết định tham gia phiên toà sơ thẩm, thì Viện Kiểm sát cần thông báo họ, tên Kiểm sát viên sẽ tham gia phiên toà cho Toà án biết để Toà án ghi vào Quyết định đưa vụ án ra xét sử theo quy định tại Điều 37 của Pháp lệnh. Nếu sau đó Viện kiểm sát thay đổi Kiểm sát viên thì cần thông báo bằng văn bản cho Toà án và các đương sự biết.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
II- VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ
...
4. Trong trường hợp Toà án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Viện kiểm sát mới xét thấy cần thiết tham gia phiên toà sơ thẩm, thì phải ra quyết định, trong đó ghi rõ Kiểm sát viên tham gia phiên toà và gửi cho Toà án, các bên đương sự. Trong trường hợp này, Toà án không có trách nhiệm gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 3 Điều 34 của Pháp lệnh.

Nếu kiểm sát viên cần nghiên cứu hồ sơ vụ án, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Toà án chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để nghiên cứu hoặc Kiểm sát viên có thể đến Toà án để nghiên cứu.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
I- VỀ THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN
...
5. Cách tính các thời hạn quy định trong Pháp lệnh được thực hiện tương tự theo cách tính thời hiệu khởi kiện được hướng dẫn tại điểm 3 mục này. Tuy nhiên, Pháp lệnh chỉ quy định thời hạn để cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu hồ sơ là năm ngày để tham gia phiên toà sơ thẩm (khoản 3 Điều 34 của Pháp lệnh) và mười ngày để tham gia phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (khoản 1 Điều 68, khoản 1 Điều 76, khoản 2 Điều 83 của Pháp lệnh), mà không quy định kể từ ngày nào. Do đó, thời hạn năm ngày và mười ngày này được tính kể từ ngày tiếp theo ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án. Trong trường hợp ngày tiếp theo là ngày nghỉ (chủ nhật, ngày lễ, ngày tết), thì thời hạn năm ngày và mười ngày này được tính bắt đầu từ ngày làm việc đầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó. Hết các thời hạn nói trên Viện Kiểm sát trả ngay hồ sơ cho Toà án để Toà án chuẩn bị cho việc mở phiên toà đúng thời hạn luật định.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
II- VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ
...
5. Trước khi mở phiên toà, nếu Toà án nhận được đơn yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên, thì Toà án chuyển ngay đơn yêu cầu đó cho Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Pháp lệnh. Tại phiên toà, nếu Hội đồng xét xử thấy cần phải thay đổi Kiểm sát viên, thì ra quyết định hoãn phiên toà, trong đó nêu rõ lý do hoãn phiên toà và yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét và quyết định cử Kiểm sát viên khác thay thế. Nếu chấp nhận đơn yêu cầu thì ra quyết định cử Kiểm sát viên khác thay thế, nếu không chấp nhận đơn yêu cầu thì ra quyết định không chấp nhận, trong đó cần nêu rõ căn cứ và lý do của việc không chấp nhận. Các quyết định này được gửi cho Toà án và các đương sự. Sau khi nhận được quyết định của Viện kiểm sát Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
II- VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ
...
6. Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 của Pháp lệnh thì chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày tuyên án, ra quyết định, Toà án gửi bản sao bản án hoặc quyết định cho Viện kiểm sát cùng cấp và theo quy định tại khoản 2 Điều 61 của Pháp lệnh thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là hai mươi ngày, kể từ ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định. Nếu kiểm sát viên không tham gia phiên toà, thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết định. Do đó, để Viện kiểm sát cấp trên thực hiện được quyền kháng nghị của mình, thì chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày tuyên án, ra quyết định (nếu Kiểm sát viên có tham gia phiên toà) hoặc kể từ ngày nhận được bản sao bản án, quyết định (nếu Kiểm sát viên không tham gia phiên toà), Viện kiểm sát cùng cấp phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp trên biết quyết định giải quyết vụ án kinh tế của Toà án.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
II- VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ
...
6. Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 của Pháp lệnh thì chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày tuyên án, ra quyết định, Toà án gửi bản sao bản án hoặc quyết định cho Viện kiểm sát cùng cấp và theo quy định tại khoản 2 Điều 61 của Pháp lệnh thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là hai mươi ngày, kể từ ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định. Nếu kiểm sát viên không tham gia phiên toà, thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết định. Do đó, để Viện kiểm sát cấp trên thực hiện được quyền kháng nghị của mình, thì chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày tuyên án, ra quyết định (nếu Kiểm sát viên có tham gia phiên toà) hoặc kể từ ngày nhận được bản sao bản án, quyết định (nếu Kiểm sát viên không tham gia phiên toà), Viện kiểm sát cùng cấp phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp trên biết quyết định giải quyết vụ án kinh tế của Toà án.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
III- VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC.
...
2. Điều 88 của Pháp lệnh quy định: "Bản án, quyết định của Toà án về vụ án kinh tế được thi hành theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự"; do đó, việc cấp bản sao bản án, quyết định về vụ án kinh tế cũng như các mối quan hệ công tác khác giữa Toà án với cơ quan thi hành án trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án kinh tế và việc kiểm sát việc thi hành án đối với bản án, quyết định này được thi hành theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21-4-1993 và Thông tư liên ngành số 981/TTLN ngày 21-9-1993 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn về việc thực hiện một số quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự".

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
III- VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC.
...
3. Đối với các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà hợp đồng kinh tế đó được ký kết từ ngày 1-7-1994 trở đi cũng như đối với các tranh chấp kinh tế khác mà các bên thoả thuận trước với nhau là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài, nếu đương sự có đơn yêu cầu Toà án giải quyết thì Toà án áp dụng điểm 5 Điều 32 của Pháp lệnh trả lại đơn kiện cho đương sự và giải thích cho đương sự biết quy định này của Pháp luật.

Tuy nhiên đối với các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà hợp đồng kinh tế đó được ký kết trước ngày 1-7-1994 và trong đó có điều khoản về việc các bên thoả thuận với nhau khi có tranh chấp thì yêu cầu Trọng tài kinh tế giải quyết, nếu đương sự có đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo cách tính tại mục I Thông tư này, thì Toà án thụ lý để giải quyết mà không áp dụng điểm 5 Điều 32 của Pháp lệnh để trả lại đơn kiện.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
III- VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC.
...
3. Đối với các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà hợp đồng kinh tế đó được ký kết từ ngày 1-7-1994 trở đi cũng như đối với các tranh chấp kinh tế khác mà các bên thoả thuận trước với nhau là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài, nếu đương sự có đơn yêu cầu Toà án giải quyết thì Toà án áp dụng điểm 5 Điều 32 của Pháp lệnh trả lại đơn kiện cho đương sự và giải thích cho đương sự biết quy định này của Pháp luật.

Tuy nhiên đối với các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà hợp đồng kinh tế đó được ký kết trước ngày 1-7-1994 và trong đó có điều khoản về việc các bên thoả thuận với nhau khi có tranh chấp thì yêu cầu Trọng tài kinh tế giải quyết, nếu đương sự có đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo cách tính tại mục I Thông tư này, thì Toà án thụ lý để giải quyết mà không áp dụng điểm 5 Điều 32 của Pháp lệnh để trả lại đơn kiện.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
III- VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC.
...
3. Đối với các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà hợp đồng kinh tế đó được ký kết từ ngày 1-7-1994 trở đi cũng như đối với các tranh chấp kinh tế khác mà các bên thoả thuận trước với nhau là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài, nếu đương sự có đơn yêu cầu Toà án giải quyết thì Toà án áp dụng điểm 5 Điều 32 của Pháp lệnh trả lại đơn kiện cho đương sự và giải thích cho đương sự biết quy định này của Pháp luật.

Tuy nhiên đối với các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà hợp đồng kinh tế đó được ký kết trước ngày 1-7-1994 và trong đó có điều khoản về việc các bên thoả thuận với nhau khi có tranh chấp thì yêu cầu Trọng tài kinh tế giải quyết, nếu đương sự có đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo cách tính tại mục I Thông tư này, thì Toà án thụ lý để giải quyết mà không áp dụng điểm 5 Điều 32 của Pháp lệnh để trả lại đơn kiện.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục III Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 130/2002/KHXX năm 2002

Sau khi nghiên cứu Công văn số 02/KT-TA ngày 24-4-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và khoản 1 Điều 24 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì: "Khi cần thiết Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự trưng cầu giám định".

Việc trưng cầu giám định và tiến hành giám định tư pháp phải theo đúng các quy định tại Nghị định số 117/HĐBT ngày 21-7-1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về giám định tư pháp và hướng dẫn của Thông tư số 78/TT-QĐ ngày 26-1-1989 của Bộ Tư pháp. Ở nước ta, tổ chức giám định tư pháp được thành lập ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Tổ chức giám định tư pháp ở trung ương thực hiện giám định các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương ra quyết định trưng cầu giám định và giám định các vụ việc phức tạp do cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương trưng cầu. Tổ chức giám định tư pháp ở cấp tỉnh thực hiện giám định các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương và trung ương trưng cầu.

Như vậy, theo các quy định trên đây thì khi cần thiết phải giám định tư pháp quý Toà có quyền yêu cầu tổ chức giám định tư pháp tại địa phương thực hiện giám định bằng việc ra quyết định trung cầu giám định.

Trong trường hợp ở địa phương không có tổ chức giám định tư pháp chuyên ngành về các vấn đề cần giám định theo yêu cầu của Toà án hoặc cơ quan giám định từ chối việc giám định và Toà án thấy rằng cần phải yêu cầu tổ chức giám định ở nơi khác, thì Toà án có quyền trưng cầu tổ chức giám định tư pháp ở trung ương để tổ chức này thực hiện giám định hoặc yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan nhà nước chuyên ngành cử người giám định.

Trong trường hợp các đương sự trong vụ án thoả thuận được với nhau về việc yêu cầu cơ quan, tổ chức có đầy đủ năng lực ở địa phương hoặc ở địa phương khác tiến hành giám định và tự chịu chi phí giám định, thì Toà án chấp nhận sự thoả thuận của họ.

2. Đối với trường hợp mà quý Toà nêu tại Công văn số 02/KT-TA ngày 24-4-2002, thì Toà án không ký hợp đồng kinh tế với Công ty kiểm định xây dựng Sài Gòn, Công ty kiểm toán thành phố Hồ Chí Minh mà vẫn thực hiện theo nội dung hướng dẫn như đã nêu tại điểm 1 nói trên.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong khi giải quyết vụ án cụ thể ở địa phương.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 130/2002/KHXX năm 2002
- Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 130/2002/KHXX năm 2002

Sau khi nghiên cứu Công văn số 02/KT-TA ngày 24-4-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và khoản 1 Điều 24 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì: "Khi cần thiết Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự trưng cầu giám định".

Việc trưng cầu giám định và tiến hành giám định tư pháp phải theo đúng các quy định tại Nghị định số 117/HĐBT ngày 21-7-1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về giám định tư pháp và hướng dẫn của Thông tư số 78/TT-QĐ ngày 26-1-1989 của Bộ Tư pháp. Ở nước ta, tổ chức giám định tư pháp được thành lập ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Tổ chức giám định tư pháp ở trung ương thực hiện giám định các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương ra quyết định trưng cầu giám định và giám định các vụ việc phức tạp do cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương trưng cầu. Tổ chức giám định tư pháp ở cấp tỉnh thực hiện giám định các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương và trung ương trưng cầu.

Như vậy, theo các quy định trên đây thì khi cần thiết phải giám định tư pháp quý Toà có quyền yêu cầu tổ chức giám định tư pháp tại địa phương thực hiện giám định bằng việc ra quyết định trung cầu giám định.

Trong trường hợp ở địa phương không có tổ chức giám định tư pháp chuyên ngành về các vấn đề cần giám định theo yêu cầu của Toà án hoặc cơ quan giám định từ chối việc giám định và Toà án thấy rằng cần phải yêu cầu tổ chức giám định ở nơi khác, thì Toà án có quyền trưng cầu tổ chức giám định tư pháp ở trung ương để tổ chức này thực hiện giám định hoặc yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan nhà nước chuyên ngành cử người giám định.

Trong trường hợp các đương sự trong vụ án thoả thuận được với nhau về việc yêu cầu cơ quan, tổ chức có đầy đủ năng lực ở địa phương hoặc ở địa phương khác tiến hành giám định và tự chịu chi phí giám định, thì Toà án chấp nhận sự thoả thuận của họ.

2. Đối với trường hợp mà quý Toà nêu tại Công văn số 02/KT-TA ngày 24-4-2002, thì Toà án không ký hợp đồng kinh tế với Công ty kiểm định xây dựng Sài Gòn, Công ty kiểm toán thành phố Hồ Chí Minh mà vẫn thực hiện theo nội dung hướng dẫn như đã nêu tại điểm 1 nói trên.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong khi giải quyết vụ án cụ thể ở địa phương.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 130/2002/KHXX năm 2002
- Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 130/2002/KHXX năm 2002

Sau khi nghiên cứu Công văn số 02/KT-TA ngày 24-4-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và khoản 1 Điều 24 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì: "Khi cần thiết Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự trưng cầu giám định".

Việc trưng cầu giám định và tiến hành giám định tư pháp phải theo đúng các quy định tại Nghị định số 117/HĐBT ngày 21-7-1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về giám định tư pháp và hướng dẫn của Thông tư số 78/TT-QĐ ngày 26-1-1989 của Bộ Tư pháp. Ở nước ta, tổ chức giám định tư pháp được thành lập ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Tổ chức giám định tư pháp ở trung ương thực hiện giám định các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương ra quyết định trưng cầu giám định và giám định các vụ việc phức tạp do cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương trưng cầu. Tổ chức giám định tư pháp ở cấp tỉnh thực hiện giám định các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương và trung ương trưng cầu.

Như vậy, theo các quy định trên đây thì khi cần thiết phải giám định tư pháp quý Toà có quyền yêu cầu tổ chức giám định tư pháp tại địa phương thực hiện giám định bằng việc ra quyết định trung cầu giám định.

Trong trường hợp ở địa phương không có tổ chức giám định tư pháp chuyên ngành về các vấn đề cần giám định theo yêu cầu của Toà án hoặc cơ quan giám định từ chối việc giám định và Toà án thấy rằng cần phải yêu cầu tổ chức giám định ở nơi khác, thì Toà án có quyền trưng cầu tổ chức giám định tư pháp ở trung ương để tổ chức này thực hiện giám định hoặc yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan nhà nước chuyên ngành cử người giám định.

Trong trường hợp các đương sự trong vụ án thoả thuận được với nhau về việc yêu cầu cơ quan, tổ chức có đầy đủ năng lực ở địa phương hoặc ở địa phương khác tiến hành giám định và tự chịu chi phí giám định, thì Toà án chấp nhận sự thoả thuận của họ.

2. Đối với trường hợp mà quý Toà nêu tại Công văn số 02/KT-TA ngày 24-4-2002, thì Toà án không ký hợp đồng kinh tế với Công ty kiểm định xây dựng Sài Gòn, Công ty kiểm toán thành phố Hồ Chí Minh mà vẫn thực hiện theo nội dung hướng dẫn như đã nêu tại điểm 1 nói trên.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong khi giải quyết vụ án cụ thể ở địa phương.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 130/2002/KHXX năm 2002
- Thời hiệu khởi kiện được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994.

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điểm như sau:
...
I- VỀ THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN
...
4. Theo điểm d khoản 1 Điều 39 của Pháp lệnh thì Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án nếu thời hạn khởi kiện đã hết trước ngày Toà án thụ lý vụ án. Theo tinh thần quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh thì sau khi nhận được đơn và các tài liệu kèm theo, nếu đơn kiện không thuộc một trong những trường hợp trả lại đơn kiện quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh thì Toà án cần xem xét vụ án có thuộc thẩm quyền của mình hay không (thẩm quyền của cấp Toà án, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn). Nếu qua xem xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì thông báo cho nguyên đơn biết và trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày được thông báo, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án chỉ vào sổ thụ lý vụ án vào ngày nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí. Nếu qua xem xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì phải chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền ngay sau khi phát hiện việc giải quyết vụ án không thuộc thẩm quyền của mình (Điều 16 của Pháp lệnh). Như vậy khoảng thời gian từ ngày đương sự nộp hoặc gửi đơn kiện đến ngày Toà án vào sổ thụ lý vụ án hoặc đến ngày Toà án có thẩm quyền nhận được hồ sơ vụ án tương đối dài (có thể trên dưới một tháng). Nếu xác định ngày Toà án thụ lý vụ án theo quy định tại các điều 33, 34 của Pháp lệnh để tính thời hiệu khởi kiện, thì không phù hợp với quy định tại Điều 31 của Pháp lệnh về thời hạn khởi kiện; do đó, để bảo vệ quyền lợi của đương sự, thì chỉ coi thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn kiện (điểm 2 Điều 32 của Pháp lệnh) hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án (điểm đ khoản 1 Điều 39 của Pháp lệnh). Nếu kể từ ngày phát sinh tranh chấp đến ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc ngày theo dấu bưu điện trên phong bì (nếu đương sự gửi đơn kiện qua đường bưu điện) đã quá thời hạn sáu tháng theo cách tính tại điểm 3 mục này.

Xem nội dung VB
Thời hiệu khởi kiện được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục I Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1995
- Khoản này được hướng dẫn bởi Mục III Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, phù hợp với thực tiễn sản xuất kinh doanh trọng điều kiện hiện nay;

Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
...
III. VIỆC ÁP DỤNG ĐIỂM 3 ĐIỀU 32 PHÁP LỆNH THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ

Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 39 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án kinh tế khi: "Đã có quyết định của Toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp là đương sự của vụ án". Khi áp dụng quy định này cần chú ý:

1. Để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong trường hợp Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án kinh tế với lý do đã có quyết định của Toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, nhưng sau đó Toà án có quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, nếu đương sự khởi kiện lại vụ án kinh tế mà họ đã khởi kiện trước đó và bị đình chỉ, thì Toà án thụ lý để giải quyết theo thủ tục chung.

2. Thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là sáu tháng, kể từ ngày Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về thời hiệu khởi kiện.

Đối với trường hợp Toà án đã có quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thì thời hiệu khởi kiện được tính kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục III Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP
Bản Tiếng Anh (English)
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 31-L/CTN   Loại văn bản: Pháp lệnh
Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội   Người ký: Nông Đức Mạnh
Ngày ban hành: 16/03/1994   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 31/05/1994   Số công báo: Số 10
Lĩnh vực: Tố tụng và các phương thức giải quyết tranh chấp   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994

693

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
38698