• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Bộ luật Hình sự 2015


Văn bản pháp luật về Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

 

Bộ luật tố tụng hình sự 1988

Tải về Bộ luật tố tụng hình sự 1988
Bản Tiếng Việt

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 7-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 1988

 

BỘ LUẬT

TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

LỜI NÓI ĐẦU

Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Thấu suốt tư tưởng "lấy dân làm gốc", Bộ luật đáp ứng yêu cầu bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạm tội.

Kế thừa và phát triển pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta từ Cách mạng tháng Tám đến nay, với tinh thần đổi mới trên mọi mặt của đời sống xã hội, Bộ luật quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, đề cao vai trò của các tổ chức xã hội và công dân trong việc tham gia tố tụng, kết hợp sức mạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa với sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

Việc thi hành nghiêm chỉnh Bộ luật tố tụng hình sự là nhiệm vụ chung của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và của toàn thể nhân dân.

Phần thứ nhất:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Chương 1:

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Bộ luật góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.

Điều 2. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự.

Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.

Điều 3. Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.

Khi tiến hành tố tụng, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa.

Điều 4. Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.

Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.

Điều 5. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

Không ai có thể bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát. Việc bắt và giam giữ người phải theo đúng quy định của Bộ luật này.

Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình.

Điều 6. Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân.

Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự và nhân phẩm.

Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.

Điều 7. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân.

Không ai được xâm phạm chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân.

Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện tín khi tiến hành tố tụng phải theo đúng quy định của Bộ luật này.

Điều 8. Việc tham gia tố tụng hình sự của các tổ chức xã hội và công dân.

Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ, các tổ chức xã hội khác và công dân đều có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật này, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức xã hội và công dân tham gia tố tụng hình sự.

Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, nếu Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận phát hiện những hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng thì có quyền kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền quy định tại Bộ luật này. Các cơ quan đó phải xem xét, giải quyết và trả lời cho các tổ chức xã hội đã kiến nghị biết.

Điều 9. Sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan khác của Nhà nước.

Trong phạm vi trách nhiệm của mình, các cơ quan Nhà nước phối hợp với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

Các cơ quan Nhà nước phải thông báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát biết mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan, đơn vị mình, thực hiện yêu cầu của các cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng.

Điều 10. Không ai có thể bị coi là có tội, nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Toà án.

Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Điều 11. Xác định sự thật của vụ án.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo.

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Điều 12. Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo.

Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ.

Điều 13. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự.

Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án, trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội.

Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định.

Điều 14. Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng hình sự.

Thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, điều tra viên, thư ký phiên toà, người phiên dịch, người giám định không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình.

Điều 15. Phát hiện và khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toá án có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

Các cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời về việc thực hiện yêu cầu của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án.

Điều 16. Thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia.

Việc xét xử ở Toà án có hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này. Khi xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán.

Điều 17. Thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Điều 18. Toà án xét xử tập thể.

Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số.

Điều 19. Xét xử công khai.

Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự.

Trong trường hợp đặc biệt, cần giữ gìn bí mật Nhà nước hoặc giữ gìn đạo đức xã hội thì Toà án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.

Điều 20. Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án.

Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án và những người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Toà án.

Điều 21. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự.

Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tiến hành và người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trong trường hợp này phải có phiên dịch.

Điều 22. Giám đốc việc xét xử.

Toà án cấp trên giám đốc việc xét xử của Toà án cấp dưới, Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất.

Điều 23. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự.

Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào.

Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, kiểm sát viên chỉ tuân theo pháp luật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Điều 24. Bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo của công dân đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái pháp luật của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án hoặc của bất kỳ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.

Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và giải quyết nhanh chóng các khiếu nại và tố cáo, thông báo bằng văn bản kết quả cho người khiếu nại và tố cáo biết và có biện pháp khắc phục.

Cơ quan đã làm oan phải khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại. Cá nhân có hành vi trái pháp luật thì tuỳ trường hợp mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 25. Bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Toà án.

Bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân và tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình, phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án và quyết định của Toà án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó.

Điều 26. Hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bộ luật tố tụng hình sự được áp dụng đối với hoạt động tố tụng do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiến hành.

Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà là công dân của nước đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hoạt động tố tụng được tiến hành theo quy định của hiệp định tương trợ tư pháp.

Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các hiệp định quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hay công nhận hoặc theo tục lệ quốc tế, thì vụ án được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Chương 2:

CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ VIỆC THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

Điều 27. Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

1- Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:

a) Cơ quan điều tra;

b) Viện kiểm sát;

c) Toà án.

2- Những người tiến hành tố tụng gồm có:

a) Điều tra viên;

b) Kiểm sát viên;

c) Thẩm phán;

d) Hội thẩm nhân dân;

đ) Thư ký phiên toà.

Điều 28. Những trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng.

Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

1- Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo;

2- Họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó;

3- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Điều 29. Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.

Những người sau đây có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng:

1- Kiểm sát viên;

2- Bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ;

3- Người bào chữa.

Điều 30. Thay đổi thẩm pháp hoặc Hội thẩm nhân dân.

1- Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi, nếu:

a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 28 Bộ luật này;

b) Họ cùng trong một hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;

c) Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là điều tra viên, kiểm sát viên, thư ký phiên toà.

Thành viên Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã tham gia xét xử vụ án theo trình tự giám đốc tại Uỷ ban thẩm phán vẫn được tham gia xét xử lại vụ án tại Hội đồng thẩm phán.

2- Việc thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân trước khi mở phiên toà do Chánh án Toà án quyết định.

Việc thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân tại phiên toà do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét việc thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.

Việc cử thành viên mới của Hội đồng xét xử do Chánh án Toà án quyết định.

Điều 31. Thay đổi kiểm sát viên.

1- Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 28 Bộ luật này;

b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là điều tra viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân hoặc thư ký phiên toà.

2- Việc thay đổi kiểm sát viên trước khi mở phiên toà do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên quyết định. Trong trường hợp phải thay đổi kiểm sát viên tại phiên toà thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà.

Việc cử kiểm sát viên khác do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên quyết định.

Điều 32. Thay đổi điều tra viên.

1- Điều tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 28 Bộ luật này;

b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân hoặc thư ký phiên toà.

2- Việc thay đổi điều tra viên do thủ trưởng cơ quan điều tra quyết định.

Nếu điều tra viên bị thay đổi là thủ trưởng cơ quan điều tra thì việc điều tra vụ án được giao cho cơ quan điều tra cấp trên.

Điều 33. Thay đổi thư ký phiên toà.

1- Thư ký phiên toà phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 28 Bộ luật này;

b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là kiểm sát viên, điều tra viên, thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân.

2- Việc thay đổi thư ký phiên toà do Hội đồng xét xử quyết định.

Việc cử thư ký khác do Chánh án Toà án quyết định.

Chương 3:

NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG 

Điều 34. Bị can, bị cáo.

1- Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.

Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử.

2- Bị can có quyền biết mình bị khởi tố về tội gì; đưa ra chứng cứ và nhữyêu cầu; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Bị can được giao nhận bản sao quyết định khởi tố, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn; được giao nhận bản kết luận điều tra sau khi kết thúc điều tra, bản cáo trạng sau khi Viện kiểm sát quyết định truy tố; có quyền khiếu nại các quyết định của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát.

3- Bị cáo được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; được tham gia phiên toà; được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; đưa ra chứng cứ và những yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; nói lời sau cùng trước khi nghị án; được kháng cáo bản án và quyết định của Toà án.

4- Bị can, bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án; trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải.

Điều 35. Người bào chữa.

1- Người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo;

c) Bào chữa viên nhân dân.

2- Những người sau đây không được bào chữa:

a) Người đã tiến hành tố tụng trọng vụ án đó hoặc là người thân thích của người này;

b) Người tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch.

3- Một người bào chữ có thể bào chữa cho nhiều bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một bị can, bị cáo.

4- Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Toà án hoặc Hội đồng xét xử cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong vụ án để họ thực hiện nhiệm vụ bào chữa.

Điều 36. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa.

1- Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

2- Người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác.

Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; đưa ra chứng cứ và những yêu cầu; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam; được đọc hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra; có quyền tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên toà; khiếu nại các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, kháng cáo bản án và quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 37 Bộ luật này.

3- Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Người bào chữa không được từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận, nếu không có lý do chính đáng.

Người bào chữa không được tiết lộ bí mật mà mình biết được trong khi làm nhiệm vụ.

Điều 37. Lựa chọn và thay đổi người bào chữa.

1- Người bào chữa do bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn.

2- Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ:

a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự.

b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

Trong những trường hợp quy định tại điểm a và b, khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.

Điều 38. Người bị tạm giữ.

1- Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố.

2- Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ; được giải thích quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa ra những yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ và những quyết định khác có liên quan. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ.

Điều 39. Người bị hại.

1- Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra.

2- Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền đưa ra chứng cứ và những yêu cầu; được thông báo về kết quả điều tra; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; có quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường; tham gia phiên toà; khiếu nại quyết định của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; kháng cáo bản án và quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo.

Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền quy định tại Điều này.

3- Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm theo Điều 242 Bộ luật hình sự.

4- Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 88 Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà.

Điều 40. Nguyên đơn dân sự.

1- Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2- Nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền đưa ra chứng cứ và những yêu cầu; được thông báo về kết quả điều tra; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; có quyền đề nghị mức bồi thường, và các biện pháp bảo đảm bồi thường; tham gia phiên toà; khiếu nại quyết định của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; kháng cáo bản án và quyết định của Toà án về phần bồi thường thiệt hại.

Điều 41. Bị đơn dân sự.

1- Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

2- Bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại việc đòi bồi thường của nguyên đơn dân sự; đưa ra chứng cứ và những yêu cầu; được thông báo kết quả điều tra có liên quan đến việc đòi bồi thường; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; tham gia phiên toà; khiếu nại quyết định của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; kháng cáo bản án và quyết định của Toà án về phần bồi thường thiệt hại.

Điều 42. Người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án.

Người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ được tham gia phiên toà; đưa ra chứng cứ và những yêu cầu; kháng cáo bản án hoặc quyết định của Toà án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Điều 43. Người làm chứng.

1- Người nào biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng.

2- Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; có nghĩa vụ khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án.

3- Những người sau đây không được làm chứng:

a) Người bào chữa của bị can, bị cáo;

b) Người do có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

4- Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 242 Bộ luật hình sự; khai gian dối thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 241 Bộ luật hình sự.

Điều 44. Người giám định.

1- Người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định mà cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu.

2- Người giám định có quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định; yêu cầu cơ quan trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc kết luận; tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định.

3- Người giám định phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án.

Người giám định từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 242 Bộ luật hình sự. Người giám định kết luận gian dối thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 241 Bộ luật hình sự.

4- Người giám định phải từ chối tham tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 28 Bộ luật này;

b) Đã tiến hành tố tụng với tư cách là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký phiên toà hoặc đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch trong vụ án đó. Việc thay đổi người giám định do cơ quan trưng cầu quyết định.

5- Bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:

a) Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

b) Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ;

c) Tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tình tiết của vụ án.

Điều 45. Người phiên dịch.

1- Người phiên dịch do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án yêu cầu trong trường hợp có người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt.

2- Người phiên dịch phải có mặt theo giấy triệu tập và thực hiện nhiệm vụ được giao; nếu dịch gian dối thì người phiên dịch phải chịu trách nhiệm theo Điều 241 Bộ luật hình sự.

3- Người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 28 Bộ luật này;

b) Đã tiến hành tố tụng với tư cách là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký phiên toà hoặc đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người giám định, người làm chứng trong vụ án đó.

Việc thay đổi người phiên dịch do cơ quan yêu cầu quyết định.

4- Những quy định của Điều này cũng được áp dụng đối với người biết dấu hiệu của người câm và người điếc.

Điều 46. Trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng.

Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản.

Chương 4:

CHỨNG CỨ

Điều 47. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự.

Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:

1- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

2- Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích hoặc động cơ phạm tội;

3- Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân bị can, bị cáo;

4- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Điều 48. Chứng cứ.

1- Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự do Bộ luật này quy định mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

2- Chứng cứ được xác định bằng:

a) Vật chứng;

b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Kết luận giám định;

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu khác.

Điều 49. Thu thập chứng cứ.

1- Để thu thập chứng cứ, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp tài liệu, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.

2- Những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.

Điều 50. Đánh giá chứng cứ.

Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm nhân dân xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án.

Điều 51. Lời khai của người làm chứng.

1- Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết về vụ án, nhân thân của bị can, bị cáo, người bị hại; quan hệ giữa họ với bị can, bị cáo, người bị hại và trả lời những câu hỏi đặt ra.

2- Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.

Điều 52. Lời khai của người bị hại.

1- Người bị hại trình bày về những tình tiết của vụ án, quan hệ giữa họ với bị can, bị cáo và trả lời những câu hỏi đặt ra.

2- Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người bị hại trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.

Điều 53. Lời khai của người bị tạm giữ.

Người bị tạm giữ trình bày về những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm.

Điều 54. Lời khai của bị can, bị cáo.

1- Bị can, bị cáo trình bày về những tình tiết của vụ án.

2- Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án.

Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội.

Điều 55. Kết luận giám định.

1- Người giám định kết luận về vấn đề được yêu cầu giám định và phải chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận đó.

Nếu việc giám định do một nhóm người giám định tiến hành thì tất cả các thành viên đều ký vào bản kết luận chung. Trong trường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi riêng ý kiến kết luận của mình.

2- Trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận giám định thì phải nêu rõ lý do, nếu kết luận chưa rõ hoặc chưa đầy đủ thì quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục chung.

Điều 56. Vật chứng.

Vật chứng là những vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và những vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội.

Điều 57. Thu thập và bảo quản vật chứng.

1- Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.

Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh để đưa vào hồ sơ và vật chứng phải được niêm phong, bảo quản.

2- Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẵn lộn và hư hỏng. Hồ sơ vụ án ở cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm bảo quản vật chứng. Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại ngân hàng hoặc tại các cơ quan chuyên trách khác.

3- Người có trách nhiệm bảo quản vật chứng mà để mất mát, hư hỏng thì phải bồi thường; trong trường hợp huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vật chứng nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 236 Bộ luật hình sự.

Điều 58. Xử lý vật chứng.

1- Việc xử lý vật chứng do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Chánh án, Phó chánh án Toà án cùng cấp hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2- Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước;

b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc sở hữu của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b, khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

4- Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo tố tụng dân sự.

Điều 59. Biên bản về hoạt động điều tra và xét xử.

Những tình tiết được ghi trong các biên bản bắt người, khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, biên bản phiên toà và các hoạt động tố tụng khác tiến hành theo quy định của Bộ luật này có thể được coi là chứng cứ.

Điều 60. Các tài liệu khác trong vụ án.

Những tình tiết có liên quan đến vụ án được ghi trong các tài liệu do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ.

Trong trường hợp những tài liệu này có những dấu hiệu quy định tại Điều 56 Bộ luật này thì được coi là vật chứng.

Chương 5:

NHỮNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN

Điều 61. Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.

Điều 62. Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam.

1- Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người:

a) Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

b) Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

c) Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toà án quân sự cấp quân khu trở lên chủ toạ phiên toà;

d) Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên. Trong trường hợp này lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

2- Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.

Người thi hành lệnh phải đọc và giải thích lệnh cho người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.

Khi tiến hành bắt người, phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến.

3- Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang quy định tại Điều 63 và Điều 64 Bộ luật này.

Điều 63. Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp.

1- Trong những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp:

a) Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng;

b) Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy đó là tội phạm nghiêm trọng và cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

c) Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm nghiêm trọng và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.

2- Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:

a) Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên;

b) Người chỉ huy của đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo hoặc biên giới;

c) Người chỉ huy máy bay, tàu biển, khi máy bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

3- Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải tuân theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 62 Bộ luật này.

4- Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản để xét phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì trả tự do ngay cho người bị bắt.

Điều 64. Việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.

1- Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2- Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí của người bị bắt.

Điều 65. Những việc cần làm ngay sau khi nhận người bị bắt.

1- Sau khi nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.

2- Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, cơ quan điều tra phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh truy nã và giải ngay người đó đến trại giam nơi gần nhất.

Điều 66. Biên bản.

1- Người thi hành lệnh bắt trong mọi trường hợp đều phải lập biên bản.

Biên bản phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh bắt, những đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và những khiếu nại của người bị bắt.

Biên bản phải được đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến nghe. Người bị bắt, người thi hành lệnh bắt và người chứng kiến phải cùng ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên.

Việc tạm giữ đồ vật của người bị bắt phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.

2- Khi giao và nhận người bị bắt, hai bên bàn giao và nhận phải lập biên bản.

Ngoài những điểm đã quy định tại khoản 1 Điều này, biên bản giao nhận còn phải ghi rõ việc bàn giao các biên bản lấy lời khai, đồ vật đã thu thập được, tình trạng sức khoẻ của người bị bắt và mọi tình tiết xảy ra lúc giao nhận.

Điều 67. Thông báo về việc bắt.

Người ra lệnh bắt phải thông báo ngay cho gia đình người đã bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết. Nếu thông báo cản trở việc điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, người ra lệnh bắt phải thông báo ngay.

Điều 68. Tạm giữ.

1- Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang quy định tại Điều 63 và Điều 64 Bộ luật này.

2- Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên có quyền ra lệnh tạm giữ.

3- Trong thời hạn 24 giờ, lệnh tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu xét thấy việc tạm giữ không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ lệnh tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Lệnh tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.

Điều 69. Thời hạn tạm giữ.

1- Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày đêm, kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt.

2- Trong trường hợp cần thiết và được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn, cơ quan ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá ba ngày đêm.

3- Khi hết thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ.

4- Thời gian tạm giữ được tính vào thời hạn tạm giam.

Điều 70. Tạm giam.

1- Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

2- Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới mười hai tháng, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng, trừ trường hợp đặc biệt thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

3- Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 62 Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 62 Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

4- Cơ quan ra lệnh tạm giam phải thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bi tạm giam cư trú hoặc làm việc biết.

Điều 71. Thời hạn tạm giam.

1- Thời hạn tạm giam để điều tra không được quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng; không được quá bốn tháng đối với tội nghiêm trọng.

2- Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở lên và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu trở lên có quyền gia hạn tạm giam, nhưng không được quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không được quá bốn tháng đối với tội nghiêm trọng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có thể gia hạn thêm đối với tội nghiêm trọng, nhưng không được quá bốn tháng.

Trong trường hợp cần thiết, đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm.

3- Trong khi tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Điều 72. Chế độ tạm giữ, tạm giam.

Chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù.

Nơi tạm giữ, tạm giam, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình được thực hiện theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.

Điều 73. Việc chăm nom thân nhân và bảo quản tài sản của người bị tạm giữ, tạm giam.

1- Khi người bị tạm giữ, tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi và thân nhân là người tàn tật, già yếu, không có người chăm sóc, thì cơ quan ra lệnh tạm giữ, tạm giam giao những người đó cho người thân thích hoặc cho chính quyền sở tại chăm nom.

2- Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà không có người trông nom thì cơ quan ra lệnh tạm giữ, tạm giam phải áp dụng những biện pháp bảo quản thích đáng.

3- Cơ quan ra lệnh tạm giữ, tạm giam thông báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết những biện pháp đã được áp dụng.

Điều 74. Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị can, bị cáo phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú của mình và phải có mặt khi có giấy triệu tập. Trong trường hợp bị can, bị cáo cần phải tạm thời di khỏi nơi cư trú thì phải được phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Bị can, bị cáo vi phạm cam đoan sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Điều 75. Bảo lĩnh.

1- Cá nhân hoặc tổ chức có thể nhận bảo lĩnh bị can, bị cáo. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án. Khi làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh. Trong trường hợp cá nhân nhận bảo lĩnh thì ít nhất phải có hai người.

2- Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh phải chịu trách nhiệm về vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan.

Điều 76. Đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm.

1- Đối với bị can hoặc bị cáo là người nước ngoài thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có thể cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt theo giấy triệu tập.

Quyết định của cơ quan điều tra về việc cho đặt tiền hoặc tài sản phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

2- Phải lập biên bản về việc đặt tiền hoặc tài sản và giao cho bị can hoặc bị cáo một bản. Biên bản phải ghi rõ số lượng tiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt.

3- Trong trường hợp bị can hoặc bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án thì số tiền hoặc tài sản đó bị sung quỹ Nhà nước.

Điều 77. Huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn.

1- Khi vụ án bị đình chỉ thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đều phải được huỷ bỏ.

2- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác.

Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay thế phải do Viện kiểm sát quyết định.

Chương 6:

BIÊN BẢN, THỜI HẠN, ÁN PHÍ

Điều 78. Biên bản.

1- Khi tiến hành các hoạt động tố tụng, bắt buộc phải lập biên bản theo mẫu quy định thống nhất.

Trong biên bản ghi rõ địa điểm, ngày, giờ, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng, những người tiến hành, tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động tố tụng, những khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ.

2- Biên bản phiên toà phải có chữ ký của chủ toạ và thư ký; biên bản các hoạt động tố tụng khác phải có chữ ký của những người mà Bộ luật này quy định trong từng trường hợp. Những điểm sửa chữa trong biên bản cũng phải được xác nhận bằng chữ ký của họ.

Điều 79. Tính thời hạn.

1- Thời hạn mà Bộ luật này quy định được tính theo giờ, ngày và tháng. Đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.

Khi tính thời hạn theo ngày thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ; khi tính thời hạn theo tháng thì thời hạn hết vào ngày trùng của tháng sau; nếu tháng đó không có ngày trùng, thì thời hạn hết vào ngày cuối của tháng đó; nếu thời hạn hết vào ngày không làm việc thì ngày làm việc đầu tiên tiếp theo được tính là ngày cuối cùng của thời hạn.

2- Trong trường hợp có đơn hoặc giấy tờ được gửi qua bưu điện thì thời hạn được tính theo dấu bưu điện. Nếu có đơn hoặc giấy tờ được gửi qua Ban giám thị trại giam thì thời hạn được tính từ ngày Ban giám thị trại giam nhận đơn hoặc giấy tờ đó.

Điều 80. Phục hồi thời hạn.

Nếu quá hạn mà có lý do chính đáng thì cơ quan tiến hành tố tụng phải phục hồi thời hạn.

Điều 81. Án phí.

Án phí là tất cả chi phí để tiến hành tố tụng hình sự bao gồm tiền thù lao cho người làm chứng, người bị hại, người giám định, người phiên dịch, người bào chữa trong trường hợp Toà án chỉ định và các khoản chi phí khác.

Điều 82. Trách nhiệm chịu án phí.

1- Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu.

2- Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Toà án.

3- Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nếu Toà án tuyên bị cáo vô tội thì người bị hại phải trả án phí.

Phần thứ hai:

KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

Chương 7:

KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 83. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1- Tố giác của công dân;

2- Tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội;

3- Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5- Người phạm tội tự thú.

Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản.

Điều 85. Người phạm tội tự thú.

Khi người phạm tội đến tự thú, cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và những lời khai của người tự thú.

Điều 86. Nhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm.

Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

Điều 87. Quyết định khởi tố vụ án hình sự.

1- Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm ra quyết định khởi tố vụ án trong những trường hợp quy định tại Điều 93 Bộ luật này.

Toà án ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.

2- Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng.

3- Trong thời hạn 24 giờ, quyết định khởi tố của Viện kiểm sát được gửi đến cơ quan điều tra để tiến hành điều tra; quyết định khởi tố của cơ quan điều tra, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm được gửi đến Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố; quyết định khởi tố của Toà án được gửi đến Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra.

Điều 88. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.

1- Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 109; đoạn 1, khoản 1 Điều 112; đoạn 1, khoản 1 Điều 113; khoản 1 Điều 116; khoản 1 Điều 117 và Điều 126 Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại.

2- Trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp cần thiết, tuy người bị hại rút yêu cầu, Viện kiểm sát hoặc Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Điều 89. Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự.

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

1- Không có sự việc phạm tội;

2- Hành vi không cấu thành tội phạm;

3- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết đình đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6- Tội phạm đã được đại xá;

7- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

Điều 90. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

1- Khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 89 Bộ luật này thì cơ quan có quyền khởi tố ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải huỷ bỏ quyết định khởi tố và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm biết rõ lý do; nếu xét cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan hoặc tổ chức hữu quan giải quyết.

2- Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có thể khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án với Viện kiểm sát. Quyết định không khởi tố vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới có thể bị khiếu nại với Viện kiểm sát cấp trên.

Điều 91. Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự.

1- Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp.

2- Trong trường hợp quyết định khởi tố của cơ quan điều tra, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố đó; nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan đó không có căn cứ, thì Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án.

3- Trong trường hợp quyết định khởi tố của Toà án không có căn cứ thì Viện kiểm sát kháng nghị lên Toà án cấp trên.

Chương 8:

CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ ĐIỀU TRA

Điều 92. Cơ quan điều tra và thẩm quyền điều tra.

Cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân và Lực lượng An ninh nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra trong Quân đội và những trường hợp do cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra.

2- Cơ quan điều tra trong Quân đội điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự.

3- Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra trong những trường hợp sau đây, khi Viện trưởng xét thấy cần thiết:

a) Khi phát hiện việc điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng;

b) Khi tiến hành kiểm sát việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng, không cần thiết phải chuyển cho cơ quan điều tra khác;

c) Khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể giao cho cơ quan điều tra của Viện kiểm sát điều tra trong những trường hợp khác.

4- Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

5- Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan điều tra do Hội đồng Nhà nước quy định.

Điều 93. Quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm.

1- Khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình thì đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm có thẩm quyền:

a) Đối với hành vi phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, ít nghiêm trọng thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án;

b) Đối với hành vi phạm tội nghiêm trọng hoặc phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

2- Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm do Hội đồng Nhà nước quy định.

Điều 94. Quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan điều tra và điều tra viên.

1- Thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, khám xét, thay đổi điều tra viên trong những trường hợp được Bộ luật này quy định; trực tiếp tiến hành điều tra; ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra.

Điều tra viên được phân công điều tra vụ án có quyền tiến hành các biện pháp điều tra do Bộ luật này quy định và phải chịu trách nhiệm về những hoạt động điều tra của mình.

2- Những quyết định, yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan điều tra, của điều tra viên trong khi tiến hành điều tra vụ án phải được cơ quan, tổ chức và công dân chấp hành.

Điều 95. Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra.

Có thể nhập để tiến hành điều tra trong cùng một vụ án những trường hợp bị can phạm nhiều tội, nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm quy định tại Điều 246Điều 247 Bộ luật hình sự.

Chỉ được tách vụ án trong những trường hợp thật cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.

Điều 96. Uỷ thác điều tra.

Khi cần thiết, cơ quan điều tra có thể uỷ thác cho cơ quan điều tra khác tiến hành một số hoạt động điều tra. Quyết định uỷ thác điều tra phải ghi rõ yêu cầu cụ thể. Cơ quan điều tra được uỷ thác có trách nhiệm thực hiện nhanh chóng và đầy đủ những việc được uỷ thác.

Việc uỷ thác điều tra giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những nước đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo quy định của hiệp định đó.

Điều 97. Thời hạn điều tra.

1- Thời hạn điều tra vụ án hình sự không được quá bốn tháng kể từ khi khởi tố vụ án hình sự cho đến khi kết thúc điều tra.

2- Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án, trong thời hạn mười ngày trước khi hết hạn điều tra, cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát gia hạn điều tra. Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra không quá bốn tháng đối với vụ án do cấp dưới hoặc cấp mình điều tra;

b) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng đối với những vụ án do cấp mình điều tra và một lần không quá bốn tháng đối với vụ án do cấp tỉnh và cấp quân khu điều tra;

c) Trong trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn điều tra thêm một lần không quá bốn tháng. Đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm.

3- Khi đã hết thời gian gia hạn điều tra mà không chứng minh được bi can đã thực hiện tội phạm thì cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra.

Điều 98. Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại.

1- Trong trường hợp phục hồi điều tra quy định tại Điều 140 Bộ luật này thì thời hạn điều tra tiếp không được quá ba tháng. Việc gia hạn điều tra tiến hành theo thủ tục chung quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật này, nhưng không quá ba tháng.

2- Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không được quá hai tháng; nếu do Toà án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không được quá một tháng. Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra.

3- Trong trường hợp vụ án được trả lại để điều tra lại thì thời hạn điều tra và việc gia hạn điều tra theo thủ tục chung.

Thời hạn điều tra được tính từ khi cơ quan điều tra nhận hồ sơ và yêu cầu điều tra lại.

Điều 99. Giải quyết các yêu cầu của người tham gia tố tụng.

Khi người tham gia tố tụng có yêu cầu về những vấn đề liên quan đến vụ án thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình, giải quyết yêu cầu của họ và báo cho họ biết kết quả. Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định và nêu rõ lý do.

Điều 100. Sự tham dự của người chứng kiến.

Người chứng kiến được mời tham dự hoạt động điều tra trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.

Người chứng kiến có trách nhiệm xác nhận nội dung và kết quả công việc mà điều tra viên đã tiến hành trong khi mình có mặt và có thể nêu ý kiến cá nhân. ý kiến này được ghi vào biên bản.

Điều 101. Không được tiết lộ bí mật về điều tra.

Điều tra viên, kiểm sát viên phải báo trước cho người tham gia tố tụng không được tiết lộ bí mật về điều tra. Việc báo này phải được ghi vào biên bản.

Điều tra viên, kiểm sát viên hoặc người tham gia tố tụng tiết lộ bí mật về điều tra thì tuỳ trường hợp phải chịu trách nhiệm theo các Điều 92, 93, 222, 223, 262, 263 Bộ luật hình sự.

Điều 102. Biên bản điều tra.

1- Khi tiến hành điều tra phải lập biên bản theo quy định tại Điều 78 Bộ luật này.

Người lập biên bản phải đọc lại biên bản cho người tham gia tố tụng nghe, giải thích cho họ biết quyền được bổ sung và nhận xét về biên bản. Nhận xét đó được ghi vào biên bản. Người tham gia tố tụng cùng ký tên vào biên bản với người lập biên bản.

2- Trong trường hợp người tham gia tố tụng từ chối ký vào biên bản, thì việc đó phải được ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.

3- Nếu người tham gia tố tụng vì nhược điểm về thể chất, tâm thần hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì phải ghi rõ lý do; người lập biên bản và người chứng kiến cùng ký xác nhận.

Người không biết chữ thì điểm chỉ vào biên bản.

Chương 9:

KHỞI TỐ BỊ CAN VÀ HỎI CUNG BỊ CAN

Điều 103. Khởi tố bị can.

1- Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.

2- Quyết định khởi tố bị can ghi rõ: thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh; nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm.

Nếu bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau, thì trong quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng.

3- Cơ quan ra quyết định khởi tố bị can phải giao quyết định và giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can. Bị can ký vào biên bản giao nhận.

4- Quyết định khởi tố bị can phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Điều 104. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.

Nếu thấy cần thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can thì cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và bị can.

Điều 105. Tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm.

Khi xét thấy việc bị can tiếp tục giữ chức vụ gây khó khăn cho việc điều tra thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với cơ quan cấp quản lý bị can tạm đình chỉ chức vụ của bị can. Trong thời hạn bảy ngày, các cơ quan này phải trả lời cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã có kiến nghị biết.

Điều 106. Giấy triệu tập bị can.

1- Giấy triệu tập bị can cần ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can; ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm có mặt, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không có lý do chính đáng.

2- Giấy triệu tập bị can được gửi cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can cư trú hoặc cho Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc để giao cho bị can.

Khi nhận giấy triệu tập, bị can phải ký nhận, có ghi rõ ngày, giờ nhận. Nếu bị can không ký nhận thì phải lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan điều tra. Nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho một người đã thành niên trong gia đình. Bị can đang bị tạm giam được triệu tập, thông qua Ban giám thị trại giam.

3- Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập. Trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc có biểu hiện trốn tránh thì cơ quan điều tra ra quyết định áp giải. Quyết định này phải được đọc cho bị can nghe trước khi áp giải.

Điều 107. Hỏi cung bị can.

1- Việc hỏi cung bị can phải do điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó.

Trước khi hỏi cung, điều tra viên phải đọc quyết định khởi tố bị can và giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ.

Nếu vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can tự viết lời khai của mình.

2- Không hỏi cung vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

3- Điều tra viên bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 234Điều 235 Bộ luật hình sự.

Điều 108. Biên bản hỏi cung bị can.

1- Biên bản hỏi cung bị can phải lập theo quy định của Điều 78 Bộ luật này.

Mỗi lần hỏi cung đều phải lập biên bản. Biên bản phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời.

2- Sau khi hỏi cung, điều tra viên đọc lại biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trong trường hợp có bổ sung và sửa chữa biên bản, thì bị can và điều tra viên cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang của biên bản. Trong trường hợp bị can tự viết lời khai thì điều tra viên và bị can cùng ký xác nhận tờ khai đó.

Nếu việc hỏi cung được ghi âm thì sau khi hỏi cung, phải phát lại để bị can và điều tra viên cùng nghe. Biên bản phải ghi lại nội dung việc hỏi cung, bị can và điều tra viên cùng ký xác nhận.

Trong trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì điều tra viên phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời giải thích cho bị can biết được quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch. Người phiên dịch và bị can cùng ký vào từng trang của biên bản hỏi cung.

3- Khi hỏi cung có mặt người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị can thì điều tra viên phải giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người bào chữa, người đại diện hợp pháp cùng ký vào biên bản hỏi cung.

Chương 10:

LẤY LỜI KHAI NGƯỜI LÀM CHỨNG, NGƯỜI BỊ HẠI ĐỐI CHẤT VÀ NHẬN DẠNG

Điều 109. Triệu tập người làm chứng.

1- Giấy triệu tập người làm chứng phải ghi rõ họ tên, chỗ ở của người làm chứng; ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm có mặt; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không có lý do chính đáng.

2- Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng cư trú hoặc làm việc. Các cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ.

Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận.

3- Giấy triệu tập người làm chứng chưa đủ 16 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ.

Điều 110. Lấy lời khai của người làm chứng.

1- Có thể lấy lời khai người làm chứng tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại chỗ ở của người đó.

2- Nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc với nhau trong thời gian lấy lời khai.

3- Trước khi lấy lời khai, điều tra viên phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ. Việc này phải được ghi vào biên bản.

4- Trước khi hỏi về nội dung vụ án, điều tra viên cần xác minh mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, người bị hại và những tình tiết khác về nhân thân người làm chứng. Điều tra viên cần yêu cầu người làm chứng kể hoặc viết lại những gì mà họ biết về vụ án, sau dó mới đặt câu hỏi. Không được đặt câu hỏi có tính chất gợi ý.

5- Khi lấy lời khai của người làm chứng dưới 16 tuổi phải mời cha mẹ, người đại diện hợp pháp khác hoặc thầy giáo, cô giáo của người đó tham dự.

Điều 111. Biên bản ghi lời khai của người làm chứng.

Biên bản ghi lời khai của người làm chứng phải được lập theo quy định tại Điều 78 và Điều 108 Bộ luật này.

Điều 112. Lấy lời khai của người bị hại.

Việc lấy lời khai của người bị hại được tiến hành theo quy định tại các Điều 109, 110 và 111 Bộ luật này.

Điều 113. Đối chất.

1- Trong trường hợp có sự mâu thuẵn trong lời khai giữa hai hay nhiều người thì điều tra viên tiến hành đối chất.

2- Nếu có người làm chứng hoặc người bị hại tham gia đối chất thì trước tiên điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc này phải được ghi vào biên bản.

3- Khi bắt đầu đối chất, điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Khi đã nghe những lời khai trong đối chất, điều tra viên có thể hỏi thêm từng người.

Điều tra viên cũng có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẵn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này phải được ghi vào biên bản.

Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai lần trước của họ.

4- Biên bản đối chất phải lập theo quy định tại Điều 78 và Điều 108 Bộ luật này.

Điều 114. Nhận dạng.

1- Khi cần thiết, điều tra viên có thể mời người hoặc đưa vật, ảnh cho người làm chứng, người bị hại hoặc bị can nhận dạng.

Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được.

2- Số người, vật hoặc ảnh đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là ba và về bề ngoài phải tương tự giống nhau. Đối với việc nhận dạng tử thi thì không thể áp dụng nguyên tắc này.

Trong trường hợp đặc biệt có thể cho xác nhận người qua tiếng nói.

3- Nếu nhân chứng hay người bị hại là người nhận dạng, thì trước khi tiến hành, điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc giải thích đó phải được ghi vào biên bản.

4- Trong khi tiến hành nhận dạng, điều tra viên không được đặt câu hỏi có tính chất gợi ý. Sau khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật hay một ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận người, vật, hay ảnh đó.

Việc tiến hành nhận dạng phải có mặt người chứng kiến.

5- Biên bản nhận dạng phải được lập theo quy định tại Điều 78 và Điều 108 Bộ luật này. Trong biên bản cần ghi rõ nhân thân của người nhận dạng và của những người được đưa ra để nhận dạng; những đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra để nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng.

Chương 11:

KHÁM XÉT, THU GIỮ, TẠM GIỮ, KÊ BIÊN TÀI SẢN

Điều 115. Căn cứ khám người, chỗ ở, địa điểm, đồ vật, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm.

1- Việc khám người, chỗ ở, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Việc khám chỗ ở, địa điểm cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã.

2- Khi cần phải thu thập những tài liệu hoặc đồ vật liên quan đến vụ án thì có thể khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm.

Điều 116. Thẩm quyền ra lệnh khám xét.

1- Những người được quy định tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp. Lệnh khám xét của những người được quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 62 Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi tiến hành.

2- Trong trường hợp không thể trì hoãn, những người được quy định tại khoản 2 Điều 63 Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Sau khi khám xong, trong thời hạn 24 giờ, người ra lệnh khám phải báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Điều 117. Khám người.

1- Khi bắt đầu khám người, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.

Người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám.

2- Khi khám người, nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến.

3- Có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người đồ vật cần thu giữ.

Điều 118. Khám chỗ ở, địa điểm.

1- Việc khám chỗ ở, địa điểm, chỗ làm việc được tiến hành theo quy định tại các Điều 115, 116 và 117 Bộ luật này.

2- Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện chính quyền xã, phường hoặc thị trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến.

3- Không được khám chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

4- Khi khám chỗ làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Việc khám chỗ làm việc phải có đại diện của cơ quan hoặc tổ chức chứng kiến.

5- Khi tiến hành khám chỗ ở, địa điểm, những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xong.

Điều 119. Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện.

Khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện thì cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ. Lệnh này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản và sau khi thu giữ phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

Người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách cơ quan bưu điện hữu quan trước khi tiến hành thu giữ. Người phụ trách cơ quan bưu điện hữu quan phải giúp đỡ người thi hành lệnh thu giữ hoàn thành nhiệm vụ.

Khi thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm phải có đại diện của cơ quan bưu điện chứng kiến và ký xác nhận vào biên bản.

Cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết, trừ trường hợp việc thông báo cản trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, người ra lệnh thu giữ phải thông báo ngay.

Điều 120. Tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét.

Khi khám xét, điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền. Trong trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ đồ vật hoặc đại diện gia đình, đại diện chính quyền và người chứng kiến.

Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu khi tiến hành khám xét phải được lập biên bản. Biên bản tạm giữ được lập thành bốn bản: một bản giao cho người chủ đồ vật, tài liệu; một bản đưa vào hồ sơ vụ án; một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản giao cho cơ quan quản lý đồ vật, tài liệu bị tạm giữ.

Điều 121. Kê biên tài sản.

1- Việc kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định có thể tịch thu tài sản hoặc phạt tiền cũng như đối với người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật này có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 62 Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

2- Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại.

Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc thân nhân của họ bảo quản. Người được giao bảo quản mà có hành vi chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, huỷ hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 244 Bộ luật hình sự.

3- Khi tiến hành kê biên tài sản, phải có mặt đương sự hoặc người đã thành niên trong gia đình, đại diện chính quyền xã, phường hoặc thị trấn và người láng giềng chứng kiến. Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản bị kê biên. Biên bản phải lập theo quy định tại Điều 78 Bộ luật này, đọc cho đương sự và những người có mặt nghe và cùng ký tên. Những khiếu nại của đương sự được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.

Biên bản kê biên được lập thành ba bản: một bản được giao ngay cho đương sự sau khi kê biên xong; một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.

4- Khi xét thấy việc kê biên không còn cần thiết thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải kịp thời ra quyết định huỷ bỏ lệnh kê biên.

Điều 122. Trách nhiệm bảo quản đồ vật, tài liệu, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị niêm phong.

Đồ vật, tài liệu, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị niêm phong theo quy định tại các Điều 57, 119 và 120 Bộ luật này phải được bảo quản nguyên vẹn.

Người được giao bảo quản mà phá huỷ niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản được giao bảo quản thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 244 Bộ luật hình sự.

Điều 123. Biên bản khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm.

Khi tiến hành khám xét, thu giữ, tạm giữ phải lập biên bản theo quy định tại Điều 78 Bộ luật này.

Điều 124. Trách nhiệm của người ra lệnh và thi hành lệnh khám xét, kê biên tài sản, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm.

Người ra lệnh, người tiến hành khám xét, kê biên tài sản, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm trái pháp luật thì tuỳ trường hợp mà bị xử lý kỷ luật hoặc phải chịu trách nhiệm theo quy định của Bộ luật hình sự.

Chương 12:

KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI THỰC NGHIỆM ĐIỀU TRA, GIÁM ĐỊNH

Điều 125. Khám nghiệm hiện trường.

1- Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án.

2- Khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự. Trước khi tiến hành khám nghiệm, điều tra viên phải báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Khi khám nghiệm phải có người chứng kiến; có thể để cho bị can, người bị hại, người làm chứng và mời nhà chuyên môn tham dự việc khám nghiệm.

3- Khi khám nghiệm hiện trường, điều tra viên tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình, thu lượm và xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, ghi rõ kết quả xem xét vào biên bản khám nghiệm hiện trường.

Trong trường hợp không thể xem xét ngay được thì đồ vật và tài liệu thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra.

Điều 126. Khám nghiệm tử thi.

Khi phát hiện tử thi, điều tra viên tiến hành khám nghiệm có bác sĩ pháp y tham gia và phải có người chứng kiến.

Trong trường hợp cần phải khai quật tử thi thì phải có quyết định của cơ quan điều tra và phải thông báo cho gia đình nạn nhân. việc khai quật tử thi phải được tiến hành có bác sĩ pháp y tham gia.

Khi cần thiết có thể triệu tập người giám định và phải có người chứng kiến.

Trong mọi trường hợp, việc khám nghiệm tử thi phải được báo trước cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

Điều 127. Xem xét dấu vết trên thân thể.

1- Điều tra viên tiến hành xem xét thân thể người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng để phát hiện trên người họ dấu vết của tội phạm hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Trong trường hợp cần thiết thì trưng cầu giám định pháp y.

2- Việc xem xét thân thể phải do người cùng giới tiến hành và phải có mặt người cùng giới chứng kiến. Trong trường hợp cần thiết thì có bác sĩ tham gia.

Không được xâm phạm đến nhân phẩm hoặc sức khoẻ của người bị xem xét thân thể.

Điều 128. Thực nghiệm điều tra.

1- Để kiểm tra và xác minh những tài liệu, những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án, cơ quan điều tra có quyền thực nghiệm điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc mọi tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết. Khi thấy cần, có thể đo đạc, chụp ảnh, vẽ sơ đồ.

2- Khi tiến hành thực nghiệm điều tra, phải có người chứng kiến. Trong trường hợp cần thiết, người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng cũng có thể tham gia.

Không được xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của những người tham gia việc thực nghiệm điều tra.

Điều 129. Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra.

Khi tiến hành khám nghiện hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra phải lập biên bản theo quy định tại Điều 78 Bộ luật này.

Điều 130. Trưng cầu giám định.

1- Khi có những vấn đề cần được xác định theo quy định tại khoản 5 Điều 44 Bộ luật này cũng như khi xét thấy cần thiết thì Thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định.

2- Quyết định trưng cầu giám định phải nêu rõ yêu cầu giám định vấn đề gì; họ tên người được trưng cầu hoặc tên cơ quan tiến hành giám định; ghi rõ quyền và nghĩa vụ của người giám định đã được quy định tại Điều 44 Bộ luật này.

Điều 131. Việc tiến hành giám định.

Việc giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều tra vụ án ngay sau khi có quyết định trưng cầu giám định.

Điều tra viên có quyền tham dự giám định, nhưng phải báo trước cho người giám định biết.

Điều 132. Nội dung kết luận giám định.

1- Nội dung kết luận giám định phải ghi rõ: thời gian, địa điểm tiến hành giám định; họ tên, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn của người giám định; những người tham gia khi tiến hành giám định; những dấu vết, đồ vật, tài liệu và tất cả những gì đã được giám định, những phương pháp được áp dụng và giải đáp những vấn đề đã được đặt ra có căn cứ cụ thể.

2- Để làm sáng tỏ hoặc bổ sung nội dung kết luận giám định, cơ quan điều tra có thể hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần thiết và có thể quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại.

Điều 133. Quyền của bị can đối với kết luận giám định.

1- Sau khi đã tiến hành giám định, nếu bị can yêu cầu thì được thông báo về nội dung kết luận giám định.

Bị can được trình bày những ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Những điều này được ghi vào biên bản.

2- Trong trường hợp cơ quan điều tra không chấp nhận yêu cầu của bị can thì phải nêu rõ lý do và báo cho bị can biết.

Điều 134. Giám định bổ sung hoặc giám định lại.

Việc giám định bổ sung hoặc giám định lại được tiến hành theo thủ tục chung.

Việc giám định lại phải do người giám định khác tiến hành.

Chương 13:

TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VÀ KẾT THÚC ĐIỀU TRA

Điều 135. Tạm đình chỉ điều tra.

1- Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết hạn điều tra. Trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra.

Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

Nếu không biết bị can đang ở đâu thì cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra.

2- Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho bị can, người bị hại biết.

Điều 136. Truy nã bị can.

Quyết định truy nã phải ghi rõ họ tên, tuổi, trú quán, đặc điểm để nhận dạng bị can, dán ảnh kèm theo, nếu có và tội phạm mà bị can đã bị khởi tố.

Quyết định truy nã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện, bắt, giữ người bị truy nã.

Điều 137. Kết thúc điều tra.

1- Việc điều tra kết thúc khi cơ quan điều tra ra quyết định đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra.

2- Trong trường hợp cơ quan điều tra đề nghị truy tố thì hồ sơ vụ án được chuyển sang Viện kiểm sát và cơ quan điều tra phải báo ngay cho bị can và người bào chữa biết.

Điều 138. Đề nghị truy tố.

1- Khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi tội phạm, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ.

Bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án được gửi đến Viện kiểm sát cùng cấp.

2- Kèm theo kết luận điều tra có bản kê về thời hạn điều tra, biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng có ghi rõ thời gian tạm giữ, tạm giam, vật chứng, việc kiện dân sự, biện pháp để bảo đảm việc phạt tiền, bồi thường và tịch thu tài sản, nếu có.

3- Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ và chữ ký của người làm kết luận.

Điều 139. Đình chỉ điều tra.

1- Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra trong những trường hợp sau đây:

a) Có một trong những căn cứ quy định tại Điều 89 Bộ luật này;

b) Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

2- Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do đình chỉ điều tra, việc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, trả lại đồ vật đã tạm giữ, nếu có và những vấn đề khác có liên quan.

Cơ quan điều tra phải gửi quyết định đình chỉ điều tra cho Viện kiểm sát cùng cấp và báo ngay bị can, người bị hại biết.

Nếu trong một vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

3- Trong trường hợp được quy định tại đoạn 1, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, thì cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án và có thể chuyển giao hồ sơ cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội xử lý.

Điều 140. Phục hồi điều tra.

1- Khi có lý do để huỷ bỏ quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra, thì cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Quyết định này phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.

2- Nếu việc điều tra bị đình chỉ theo điểm 5 và điểm 6 Điều 89 Bộ luật này mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi điều tra.

Chương 14:

KIỂM SÁT ĐIỀU TRA. QUYẾT ĐỊNH VIỆC TRUY TỐ

Điều 141. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra.

1- Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố, bảo đảm việc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ. Viện kiểm sát phải kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra và đề ra biện pháp khắc phục.

2- Viện kiểm sát có nhiệm vụ:

a) Áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật này quy định để mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội;

b) Bảo đảm không để một người nào bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật;

c) Bảo đảm hoạt động điều tra phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này. Trong việc điều tra phải thu thập cả chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, làm rõ những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can và tìm ra những nguyên nhân, điều kiện phạm tội;

d) Bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can là có căn cứ và hợp pháp.

3- Viện kiểm sát có quyền:

a) Kiểm sát việc khởi tố, tự mình khởi tố vụ án hình sự và chuyển đến cơ quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra; trực tiếp điều tra trong những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 92 Bộ luật này;

b) Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định của cơ quan điều tra đã được quy định tại Bộ luật này;

c) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can;

d) Đề ra yêu cầu điều tra, trả lại hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung; yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật của điều tra viên, nếu có;

đ) Kiểm sát việc khám xét, khám nghiệm, việc hỏi cung bị can và các hoạt động điều tra khác của cơ quan điều tra; trực tiếp hỏi cung bị can khi thấy cần thiết;

e) Quyết định truy tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra, chuyển vụ án, huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của các cơ quan điều tra;

g) Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra.

4- Các cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát. Đối với những yêu cầu và quyết định quy định tại các điểm b, c, e khoản 3 Điều này, nếu không nhất trí, cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xét và quyết định. Trong thời hạn hai mươi ngày, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xét và giải quyết đề nghị của cơ quan điều tra.

Điều 142. Quyết định của Viện kiểm sát sau khi kết thúc điều tra.

1- Trong thời hạn không quá ba mươi ngày kể từ khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng;

b) Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thể gia hạn thêm nhưng không quá ba mươi ngày.

Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can và người bào chữa biết những quyết định nói trên. Bản cáo trạng, quyết định đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra phải được giao cho bị can. Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép những điều cần thiết và đề xuất yêu cầu.

2- Trong trường hợp bị can đang bị tạm giam mà thời hạn tạm giam để điều tra đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành bản cáo trạng thì Viện kiểm sát có thể ra lệnh tạm giam, nhưng không được quá ba mươi ngày.

3- Trong trường hợp truy tố thì trong thời hạn ba ngày kể từ khi ra quyết định, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và quyết định truy tố đến Toà án.

Điều 143. Bản cáo trạng.

1- Nội dung bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.

Phần kết luận của cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự được áp dụng.

2- Người lập bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập cáo trạng; họ tên, chức vụ và ký vào bản cáo trạng.

Điều 144. Khiếu nại đối với hoạt động của điều tra viên, kiểm sát viên.

1- Khiếu nại đối với hoạt động của điều tra viên được gửi đến cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát cùng cấp.

Khiếu nại đối với hoạt động của kiểm sát viên được gửi cho Viện trưởng Viện kiểm sát đó hoặc Viện kiểm sát cấp trên. Nếu khiếu nại bằng miệng thì phải lập biên bản có chữ ký của người khiếu nại và người nhận khiếu nại.

2- Khiếu nại phải được giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày kể từ khi nhận được khiếu nại. Trong trường hợp bác bỏ khiếu nại phải nêu rõ lý do.

Phần thứ ba:

XÉT XỬ SƠ THẨM

Chương 15:

THẨM QUYỀN CỦA TOÀ ÁN CÁC CẤP

Điều 145. Thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp.

1- Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ bảy năm tù trở xuống, trừ những tội sau đây:

a) Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội quy định tại các Điều 89, 90, 91, 92, 93, 101 (khoản 3), 102, 179, 231, 232 Bộ luật hình sự.

2- Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.

3- Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự cấp cao xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp.

4- Toà án quân sự xét xử những bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của mình theo quy định của pháp luật.

Điều 146. Thẩm quyền theo lãnh thổ.

1- Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Toà án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Toà án có thẩm quyền xét xử là Toà án nơi kết thúc việc điều tra.

2- Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tuỳ trường hợp, Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Toà án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự thì do Toà án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử, theo quyết định của Chánh án Toà án quân sự cấp cao.

Điều 147. Thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra trên máy bay hoặc tàu biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam.

Những tội phạm xảy ra trên máy bay hoặc tàu biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài thuộc thẩm quyền của Toà án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên, hoặc nơi máy bay, tàu biển đó được đăng ký.

Điều 148. Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của các Toà án khác cấp.

Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp trên thì Toà án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án.

Điều 149. Chuyển vụ án.

Khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì Toà án chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử. Việc chuyển vụ án cho Toà án ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính tương đương và ngoài phạm vi quân khu do Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu quyết định.

Chỉ được chuyển vụ án cho Toà án khác khi vụ án chưa được xét xử. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Chánh án Toà án quyết định. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự hoặc Toà án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Toà án có thẩm quyền. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định.

Việc chuyển vụ án phải được thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Điều 150. Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử.

1- Việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định.

2- Việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Toà án nhân dân và Toà án quân sự do Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định.

Chương 16:

CHUẨN BỊ XÉT XỬ

Điều 151. Thời hạn chuẩn bị xét xử.

1- Sau khi nhận hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên toà.

2- Trong thời hạn bốn mươi lăm ngày đối với tội ít nghiêm trọng, ba tháng đối với tội nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, thẩm phán phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án;

d) Đình chỉ vụ án.

Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử thêm một tháng.

Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, phải mở phiên toà trong thời hạn mười lăm ngày; trong trường hợp có lý do chính đáng thì có thể mở phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày.

Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn mười lăm ngày sau khi nhận lại hồ sơ, thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Điều 152. Áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn.

Ngay sau khi nhận hồ sơ, thẩm phán phải quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án hoặc Phó chánh án Toà án cùng cấp quyết định.

Thời hạn tạm giam kể từ ngày Toà án nhận được hồ sơ và cáo trạng đến ngày mở phiên toà xét xử không được quá bốn mươi lăm ngày đối với vụ án do Toà án cấp huyện và Toà án quân sự khu vực thụ lý; ba tháng đối với vụ án do Toà án nhân dân cấp tỉnh trở lên và Toà án quân sự cấp quân khu trở lên thụ lý. Trong trường hợp đặc biệt, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp có quyền gia hạn thêm một lần, nhưng không được quá một tháng.

Đối với vụ án do Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao hoặc Toà án quân sự cấp cao xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm, nhưng không được quá một tháng.

Điều 153. Nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ:

1- Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị cáo;

2- Tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát viện dẫn đối với hành vi của bị cáo;

3- Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà;

4- Xử công khai hay xử kín;

5- Họ tên thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký phiên toà;

6- Họ tên kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà;

7- Họ tên người bào chữa, nếu có;

8- Họ tên người phiên dịch, nếu có;

9- Họ tên những người được triệu tập để xét hỏi tại phiên toà;

10- Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên toà.

Điều 154. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

1- Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây:

a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên toà được;

b) Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác;

c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nói rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.

2- Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và báo cho Toà án biết.

Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Toà án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Toà án vẫn tiến hành xét xử.

Điều 155. Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án.

Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều 135; ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều 89 Bộ luật này.

Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ luật này.

Điều 156. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố.

Nếu xét thấy có những căn cứ quy định tại Điều 89 Bộ luật này hoặc khi có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên toà và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án.

Điều 157. Việc giao các quyết định của Toà án.

1- Quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên toà.

Trong trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản cáo trạng được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo.

2- Các quyết định của Toà án về tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án phải được giao cho bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo; những người khác tham gia tố tụng thì được gửi giấy báo.

Điều 158. Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên toà.

Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, thẩm phán triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên toà.

Chương 17:

QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ

Điều 159. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục.

1- Toà án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng và nghe lời bào chữa. Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà.

2- Việc xét xử phải tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ.

Điều 160. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân.

Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân.

Thẩm phán chủ toạ phiên toà điều khiển và giữ kỷ luật phiên toà.

Điều 161. Thay thế thành viên của Hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt

1- Các thành viên của Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc.

2- Trong quá trình xét xử, nếu có thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân không tiếp tục tham gia xét xử được thì Toà án vẫn có thể xét xử vụ án nếu có thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân dự khuyết. Thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân dự khuyết phải có mặt tại phiên toà từ đầu thì mới được tham gia xét xử.

3- Trong trường hợp không có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ toạ phiên toà thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.

Điều 162. Sự có mặt của bị cáo tại phiên toà.

1- Bị cáo phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án; nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà.

Nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh.

Nếu bị cáo trốn tránh thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo.

2- Toà án chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo trong những trường hợp sau đây:

a) Bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả;

b) Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên toà;

c) Nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ.

Điều 163. Giám sát bị cáo tại phiên toà.

1- Bị cáo đang bị tạm giam khi ra phiên toà chỉ được tiếp xúc với người bào chữa. Việc tiếp xúc với những người khác phải được phép của chủ toạ phiên toà.

2- Bị cáo không bị tạm giam phải có mặt tại phiên toà trong suốt thời gian xử án.

Điều 164. Sự có mặt của kiểm sát viên.

1- Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà. Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hai kiểm sát viên có thể cùng tham gia phiên toà.

2- Nếu kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà và báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Điều 165. Sự có mặt của người bào chữa.

Người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên toà. Nếu người bào chữa vắng mặt, nhưng có gửi trước bản bào chữa thì Toà án vẫn mở phiên toà xét xử.

Trong trường hợp người bào chữa quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật này vắng mặt, thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà.

Điều 166. Sự có mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ.

1- Nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì tuỳ trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử.

2- Nếu thấy sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân sự chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự.

Điều 167. Sự có mặt của người làm chứng.

Người làm chứng tham gia phiên toà để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Nếu người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra thì chủ toạ phiên toà công bố những lời khai đó. Nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng vắng mặt thì tuỳ trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử.

Điều 168. Sự có mặt của người giám định.

1- Người giám định tham gia phiên toà khi được Toà án triệu tập.

2- Nếu người giám định vắng mặt thì tuỳ trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử.

Điều 169. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố hoặc định tội danh nhẹ hơn tại phiên toà.

Tại phiên toà, sau khi xét hỏi, kiểm sát viên có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội danh nhẹ hơn, nhưng Hội đồng xét xử vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án.

Điều 170. Giới hạn của việc xét xử.

Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử.

Điều 171. Nội quy phiên toà.

1- Trước khi bắt đầu phiên toà, thư ký phải phổ biến nội quy phiên toà.

2- Mọi người ở trong phòng xử án đều phải có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ toạ phiên toà.

3- Mọi người ở trong phòng xử án đều phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án. Chỉ những người được Toà án triệu tập để xét hỏi mới được phát biểu và người nào muốn phát biểu phải được chủ toạ phiên toà cho phép. Người phát biểu phải đứng khi được hỏi, trừ trường hợp vì lý do sức khoẻ được chủ toạ phiên toà cho phép ngồi để phát biểu.

4- Những người dưới 16 tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Toà án triệu tập để xét hỏi.

Điều 172. Những biện pháp đối với người vi phạm trật tự phiên toà.

Những người vi phạm trật tự phiên toà thì tuỳ trường hợp, có thể bị chủ toạ phiên toà cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bị bắt giữ.

Cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ phiên toà và thi hành lệnh của chủ toạ phiên toà về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ người gây rối trật tự tại phiên toà.

Điều 173. Việc ra bản án và các quyết định của Toà án.

1- Bản án của Toà án quyết định việc bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Bản án phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.

2- Quyết định về việc thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, thư ký phiên toà; chuyển vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải được viết thành văn bản.

3- Quyết định về vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không phải viết thành văn bản, nhưng phải được ghi vào biên bản phiên toà.

Điều 174. Biên bản phiên toà.

1- Biên bản phiên toà phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm của phiên toà và mọi diễn biến ở phiên toà từ khi bắt đầu cho đến khi tuyên án.

2- Những câu hỏi và những câu trả lời đều phải được ghi vào biên bản.

3- Sau khi kết thúc phiên toà, chủ toạ phiên toà phải kiểm tra biên bản và cùng với thư ký phiên toà ký vào biên bản đó.

4- Bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của những người đó được xem biên bản phiên toà, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà và ký xác nhận.

Chương 18:

THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TOÀ

Điều 175. Thủ tục bắt đầu phiên toà.

Khi bắt đầu phiên toà, chủ toạ phiên toà đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Sau khi nghe thư ký báo cáo danh sách những người được triệu tập đã có mặt, chủ toạ phiên toà kiểm tra căn cước của những người đó và giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà.

Trong trường hợp bị cáo chưa được giao nhận bản cáo trạng theo quy định tại khoản 2 Điều 34 và quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật này và nếu bị cáo yêu cầu thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà.

Điều 176. Giải quyết việc đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, thư ký phiên toà.

Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng phải được hỏi xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, thư ký phiên toà hay không. Nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định.

Điều 177. Giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch và người giám định.

Nếu có người phiên dịch và người giám định tham gia phiên toà thì chủ toạ phiên toà giới thiệu họ tên, nghề nghiệp hoặc chức vụ của những người đó và giải thích rõ những quyền và nghĩa vụ của họ. Những người này phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ.

Điều 178. Giải thích nghĩa vụ và cách ly người làm chứng.

1- Sau khi đã hỏi họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi thường trú của từng người làm chứng, chủ toạ phiên toà giải thích rõ nghĩa vụ tố tụng của họ. Người làm chứng phải cam đoan không khai gian dối. Riêng người làm chứng chưa thành niên không phải cam đoan.

2- Trước khi người làm chứng được hỏi về vụ án, chủ toạ phiên toà có thể quyết định những biện pháp để cho những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan. Trong trường hợp lời khai của bị cáo và người làm chứng có ảnh hưởng lẵn nhau thì chủ toạ phiên toà có thể quyết định cách ly bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng.

Điều 179. Giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên toà khi có người vắng mặt.

Chủ toạ phiên toà phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem có ai đề nghị triệu tập thêm người làm chứng hoặc đề nghị đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt thì chủ toạ phiên toà cũng phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên toà hay không. Nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định.

Chương 19:

THỦ TỤC XÉT HỎI TẠI PHIÊN TOÀ

Điều 180. Đọc bản cáo trạng.

Trước khi tiến hành xét hỏi, kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày những ý kiến bổ sung, nếu có.

Điều 181. Trình tự xét hỏi.

1- Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý.

2- Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi đến các hội thẩm nhân dân, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa. Những người tham gia phiên toà cũng có quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định.

3- Trong khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét những vật chứng có liên quan trong vụ án.

Điều 182. Công bố những lời khai tại cơ quan điều tra.

1- Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên toà thì Hội đồng xét xử và kiểm sát viên không được nhắc hoặc công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra, trước khi họ khai tại phiên toà về những tình tiết của vụ án.

2- Chỉ được công bố những lời khai tại cơ quan điều tra trong những trường hợp sau đây:

a) Lời khai của người được xét hỏi tại phiên toà có mâu thuẵn với lời khai của họ tại cơ quan điều tra;

b) Người được xét hỏi không khai tại phiên toà;

c) Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết.

Điều 183. Hỏi bị cáo.

1- Hội đồng xét xử phải hỏi riêng từng bị cáo. Nếu lời khai của bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ toạ phiên toà phải cách ly họ. Trong trường hợp này, bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó.

2- Bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án. Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẵn.

3- Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng.

Điều 184. Hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó.

Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền và lợi ích hợp pháp có liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó trình bày về những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ. Sau đó, Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẵn.

Điều 185. Hỏi người làm chứng.

1- Hội đồng xét xử phải hỏi riêng từng người làm chứng và không để cho những người làm chứng khác biết được nội dung xét hỏi đó.

2- Khi hỏi người làm chứng, Hội đồng xét xử phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với bị cáo và các đương sự trong vụ án. Chủ toạ phiên toà yêu cầu họ trình bày rõ những tình tiết vụ án mà họ đã biết, sau đó hỏi thêm về những điểm mà họ khai chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẵn.

3- Nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì chủ toạ phiên toà có thể yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi.

4- Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để có thể được hỏi thêm.

Điều 186. Xem xét vật chứng.

1- Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét tại phiên toà.

Khi cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với kiểm sát viên và những người tham gia phiên toà đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên toà được.

2- Kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia phiên toà có quyền trình bày những nhận xét của mình về vật chứng. Hội đồng xét xử có thể hỏi thêm họ về những vấn đề có liên quan đến vật chứng.

Điều 187. Xem xét tại chỗ.

Nếu xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với kiểm sát viên và những người tham gia phiên toà đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án. Việc xem xét tại chỗ phải được lập biên bản theo thủ tục chung.

Điều 188. Việc trình bày, công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét hoặc báo cáo của các cơ quan, tổ chức.

Nhận xét, báo cáo của cơ quan hoặc tổ chức về những tình tiết của vụ án do đại diện của cơ quan hoặc tổ chức đó trình bày; trong trường hợp không có đại diện của cơ quan hoặc tổ chức đó tham dự thì Hội đồng xét xử công bố nhận xét hoặc báo cáo tại phiên toà.

Các tài liệu đã có trong hồ sơ hoặc mới đưa ra khi xét hỏi đều phải được công bố tại phiên toà.

Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia phiên toà có quyền nhận xét về những tài liệu đó và hỏi thêm những vấn đề có liên quan.

Điều 189. Hỏi người giám định.

1- Người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định.

2- Tại phiên toà, người giám định có quyền giải thích, bổ sung trên cơ sở kết luận giám định.

3- Nếu người giám định vắng mặt thì chủ toạ phiên toà công bố kết luận giám định.

4- Kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia phiên toà có quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẵn trong kết luận giám định.

5- Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại.

Điều 190. Kết thúc xét hỏi.

Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ toạ phiên toà hỏi kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người khác tham gia phiên toà xem họ có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không. Nếu có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là cần thiết thì chủ toạ phiên toà quyết định tiếp tục việc xét hỏi.

Chương 20:

TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TOÀ

Điều 191. Trình tự phát biểu khi tranh luận.

1- Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên toà, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội.

2- Bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo. Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa.

3- Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình.

Điều 192. Đối đáp.

Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

Điều 193. Trở lại việc xét hỏi.

Nếu qua tranh luận mà xét thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại xét hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.

Điều 194. Bị cáo nói lời sau cùng.

Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc tranh luận.

Bị cáo được nói lời sau cùng. Không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời sau cùng. Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án, nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi.

Điều 195. Xem xét việc rút truy tố.

1- Khi kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội danh nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.

2- Trong trường hợp kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên toà trình bày ý kiến về việc rút truy tố đó.

Chương 21:

NGHỊ ÁN VÀ TUYÊN ÁN

Điều 196. Nghị án.

1- Chỉ có thẩm phán và hội thẩm nhân dân mới có quyền nghị án. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được để vào hồ sơ.

2- Trong trường hợp kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều này. Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bố vô tội; nếu thấy việc rút truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên.

3- Khi nghị án, chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.

4- Khi nghị án phải có biên bản ghi lại các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử.

Điều 197. Trở lại việc xét hỏi và tranh luận.

Qua việc nghị án nếu thấy có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi hoặc xét hỏi chưa đầy đủ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại xét hỏi và tranh luận.

Điều 198. Nội dung bản án.

1- Toà án ra bản án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2- Trong bản án cần phải ghi rõ: ngày, giờ, tháng, năm và địa điểm phiên toà, họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và thư ký phiên toà; họ tên của kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, thành phần xã hội và tiền án của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của bị cáo; họ tên của người bào chữa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án và những người đại diện hợp pháp của họ.

3- Trong bản án phải trình bày việc phạm tội của bị cáo, phân tích những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, xác định bị cáo có phạm tội hay không và nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của của Bộ luật hình sự, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo vô tội và phải giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Phần cuối cùng của bản án ghi những quyết định của Toà án và quyền kháng cáo đối với bản án.

Điều 199. Quyết định yêu cầu sửa chữa những khuyết điểm trong công tác quản lý.

1- Cùng với việc ra bản án, Toà án ra quyết định yêu cầu cơ quan hoặc tổ chức hữu quan áp dụng những biện pháp cần thiết để khắc phục những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm tại các cơ quan, tổ chức đó. Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Toà án, cơ quan, tổ chức đó phải báo cho Toà án biết những biện pháp được áp dụng.

2- Quyết định của Toà án có thể được đọc tại phiên toà cùng với bản án hoặc chỉ gửi riêng cho cơ quan hoặc tổ chức hữu quan.

Điều 200. Tuyên án.

Khi tuyên án mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy. Chủ toạ phiên toà đọc bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo.

Nếu bị cáo không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải đọc lại cho bị cáo nghe toàn bộ bản án sang thứ tiếng mà bị cáo biết.

Điều 201. Trả tự do cho bị cáo.

Trong những trường hợp sau đây Hội đồng xét xử phải tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác:

1- Bị cáo không có tội;

2- Bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được miễn hình phạt;

3- Bị cáo bị xử phạt bằng các hình phạt không phải là hình phạt tù;

4- Bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo;

5- Thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam.

Điều 202. Bắt giam bị cáo sau khi tuyên án.

Nếu bị cáo không bị tạm giam nhưng bị phạt tù thì họ chỉ bị bắt giam để chấp hành hình phạt khi bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Toà án có thể quyết định bắt giam ngay bị cáo nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục gây án.

Điều 203. Việc giao bản án.

Chậm nhất là mười lăm ngày sau khi tuyên án, Toà án phải giao bản sao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa, gửi bản sao bản án cho những người bị xử vắng mặt và thông báo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo cư trú hoặc làm việc.

Trong trường hợp xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a hoặc điểm b, khoản 2 Điều 162 Bộ luật này thì trong thời hạn nói trên bản sao bản án phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo.

Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp có liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Toà án cấp trích lục bản án hoặc bản sao bản án.

Phần thứ tư:

XÉT LẠI BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH CHƯA CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM

Chương 22:

TÍNH CHẤT CỦA PHÚC THẨM VÀ QUYỀN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ

Điều 204. Tính chất của phúc thẩm.

Phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Điều 205. Những người có quyền kháng cáo.

Bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

Người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Người được Toà án tuyên là vô tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ vô tội.

Điều 206. Kháng nghị của Viện kiểm sát.

Viện kiển sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

Điều 207. Thủ tục kháng cáo và kháng nghị.

1- Người kháng cáo phải gửi đơn đến Toà án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo.

Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Toà án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo. Toà án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó.

2- Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản, có nói rõ lý do. Kháng nghị được gửi đến Toà án đã xử sơ thẩm.

Điều 208. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

1- Thời hạn kháng cáo, kháng nghị là mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Trong trường hợp Toà án xử vắng mặt thì thời hạn đó tính từ ngày bản sao bản án được giao cho đương sự hoặc từ ngày niêm yết.

2- Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thị trại giam, thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày Ban giám thị trại giam nhận được đơn.

Điều 209. Kháng cáo quá hạn.

1- Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng.

2- Toà án cấp phúc thẩm xét lý do kháng cáo quá hạn và ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn.

Điều 210. Thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị.

1- Việc kháng cáo, kháng nghị phải được Toà án cấp sơ thẩm thông báo cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng biết.

2- Người được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi ý kiến của mình cho Toà án cấp phúc thẩm.

Điều 211. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị.

1- Những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 226 Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành.

2- Toà án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị cho Toà án cấp phúc thẩm trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Điều 212. Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị.

1- Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị.

2- Trong trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị tại phiên toà thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ.

Điều 213. Kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.

1- Viện kiểm sát kháng nghị các quyết định của Toà án cấp sơ thẩm cùng cấp trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định.

2- Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Toà án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Chương 23:

XÉT XỬ PHÚC THẨM

Điều 214. Phạm vi xét xử phúc thẩm.

Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án.

Điều 215. Thời hạn xét xử phúc thẩm.

Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu phải xét xử phúc thẩm trong thời hạn không quá ba mươi ngày; Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cáo và Toà án quân sự cấp cao phải xét xử phúc thẩm trong thời hạn không quá sáu mươi ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.

Điều 216. Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai hội thẩm nhân dân.

Điều 217. Những người tham gia phiên toà phúc thẩm.

1- Tại phiên toà phúc thẩm, sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp là bắt buộc; nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên toà.

2- Người bào chữa, người kháng cáo, người có quyền và lợi ích hợp pháp có liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị phải được tham gia phiên toà; nếu họ vắng mặt mà có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà.

3- Sự tham gia phiên toà của những người khác do Toà án cấp phúc thẩm quyết định, nếu xét thấy sự có mặt của họ là cần thiết.

Điều 218. Bổ sung, xem xét chứng cứ tại Toà án cấp phúc thẩm.

1- Trước khi xét xử hoặc trong khi xét hỏi tại phiên toà, Viện kiểm sát có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của Toà án bổ sung những chứng cứ mới; người đã kháng cáo và người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị cũng có quyền bổ sung chứng cứ mới.

2- Chứng cứ cũ và chứng cứ mới đều phải được xem xét tại phiên toà. Bản án của Toà án cấp phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới.

Điều 219. Thủ tục phiên toà phúc thẩm.

Phiên toà phúc thẩm cũng tiến hành như phiên toà sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị.

Điều 220. Bản án phúc thẩm.

Toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định:

1- Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

2- Sửa bản án sơ thẩm;

3- Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;

4- Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Điều 221. Sửa bản án sơ thẩm.

1- Toà án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:

a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt cho bị cáo;

b) Áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;

c) Giảm hình phạt cho bị cáo;

d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng.

2- Nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.

3- Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Toà án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ, Toà án vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn và giảm mức bồi thường thiệt hại.

Điều 222. Huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại.

1- Toà án cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm để tiến hành lại tố tụng từ giai đoạn điều tra khi nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

Nếu thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng thì Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới.

2- Khi huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, Toà án cấp phúc thẩm cần ghi rõ lý do của việc huỷ án sơ thẩm.

3- Khi huỷ án sơ thẩm để xét xử lại, Toà án cấp phúc thẩm không quyết định trước những chứng cứ mà Toà án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải bác bỏ, cũng như không quyết định trước về điều khoản Bộ luật hình sự và hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm sẽ phải áp dụng.

Điều 223. Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Khi có một trong những căn cứ quy định tại điểm 1 và điểm 2 Điều 89 Bộ luật này thì Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án; nếu có một trong những căn cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều 89 Bộ luật này thì huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Điều 224. Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự.

Sau khi Toà án cấp phúc thẩm huỷ án mà vụ án phải điều tra lại hoặc xét xử lại thì cơ quan điều tra tiến hành điều tra lại và Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án theo thủ tục chung.

Điều 225. Phúc thẩm những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.

1- Đối với những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng nghị hoặc kháng cáo, Toà án cấp phúc thẩm không phải mở phiên toà, nhưng nếu xét cần thì có thể triệu tập những người tham gia tố tụng cần thiết để nghe ý kiến của họ trước khi Toà án ra quyết định.

2- Toà án cấp phúc thẩm phải ra quyết định giải quyết việc kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của vụ án.

3- Khi xét những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm có những quyền hạn quy định tại Điều 220 Bộ luật này.

Phần thứ năm:

THI HÀNH BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Chương 24:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THI HÀNH BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Điều 226. Những bản án và quyết định được thi hành.

1- Những bản án và quyết định được thi hành là những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm:

a) Những bản án và quyết định sơ thẩm đồng thời là chung thẩm;

b) Những bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm;

c) Những bản án và quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;

d) Những quyết định của Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

2- Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Toà án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Toà án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị, kháng cáo.

3- Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án.

Quyết định thi hành án phải ghi rõ họ tên người ra quyết định; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành án hoặc quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án; bản án hoặc quyết định mà người bị kết án phải chấp hành.

Trong trường hợp người bị kết án đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ thời hạn người đó phải có mặt ở cơ quan công an để thi hành án là bảy ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Quyết định thi hành án, trích lục bản án hoặc quyết định phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp nơi thi hành án, cơ quan thi hành án và người bị kết án.

Điều 227. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Toà án.

1- Cơ quan công an thi hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia Hội đồng thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 229 Bộ luật này.

2- Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc cải tạo của những người được hưởng án treo hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ.

3- Việc thi hành án quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm một số chức vụ hoặc cấm làm một số nghề nhất định do chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi thi hành án đảm nhiệm.

4- Cơ sở chuyên khoa y tế thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh.

5- Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giúp chấp hành viên của Toà án thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại. Nếu cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì cơ quan công an và các cơ quan Nhà nước hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp.

6- Việc thi hành bản án và quyết định của Toà án quân sự do các tổ chức trong Quân đội đảm nhiệm.

7- Các cơ quan thi hành án phải báo cho Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án về việc bản án hoặc quyết định đã được thi hành; nếu chưa thi hành được thì phải nói rõ lý do.

Chương 25:

THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH

Điều 228. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành.

1- Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Toà án nhân dân tối cao và bản sao bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong thời hạn bảy ngày kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Hội đồng Nhà nước.

2- Bản án tử hình được thi hành, nếu không có kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm.

Điều 229. Thi hành hình phạt tử hình.

1- Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành án tử hình gồm đại diện Toà án, Viện kiểm sát và Công an. Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án trước khi thi hành án.

2- Trước khi thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nếu người bị kết án đã có đơn xin ân giảm án tử hình thì giao cho họ đọc bản sao quyết định của Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm.

3- Hình phạt tử hình được thi hành bằng xử bắn.

4- Việc thi hành án tử hình phải được lập biên bản ghi rõ việc đã giao các quyết định cho người bị kết án xem, những lời nói của họ và những thư từ, đồ vật mà họ gửi lại cho thân nhân.

5- Trong trường hợp có tình tiết đặc biệt, Hội đồng thi hành án hoãn thi hành và báo cáo lên Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

Chương 26:

THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ VÀ CÁC HÌNH PHẠT KHÁC

Điều 230. Thi hành án phạt tù.

1- Trong trường hợp người bị kết án đang bị tạm giam thì theo yêu cầu của thân nhân người bị kết án, cơ quan công an phải cho phép người bị kết án gặp thân nhân trước khi thi hành án.

Ban giám thị trại giam phải thông báo cho gia đình người bị kết án biết nơi người đó chấp hành hình phạt.

2- Trong trường hợp người bị kết án đang tại ngoại, nếu quá thời hạn mà không có mặt ở cơ quan công an để chấp hành án thì người bị kết án sẽ bị áp giải.

3- Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải theo dõi việc thi hành án. Cơ quan công an phải báo cho Toà án biết việc bắt người bị kết án để thi hành án hoặc lý do chưa bắt được và biện pháp cần áp dụng để bảo đảm việc thi hành án.

Điều 231. Hoãn thi hành án phạt tù.

Đối với người bị kết án đang được tại ngoại, Chánh án Toà án có thể tự mình hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát, cơ quan công an hoặc người bị kết án, cho hoãn chấp hành hình phạt trong những trường hợp sau đây:

1- Người bị kết án bị ốm nặng được hoãn chấp hành hình phạt cho đến khi sức khoẻ phục hồi;

2- Người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc mới sinh đẻ thì được hoãn chấp hành hình phạt từ ba tháng đến một năm;

3- Người bị kết án là người lao động duy nhất trong gia đình nếu ở tù sẽ làm cho gia đình đặc biệt khó khăn, thì có thể được hoãn chấp hành hình phạt đến một năm, trừ trường hợp là phần tử nguy hiểm cho xã hội hoặc bị kết án về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội nghiêm trọng khác;

4- Quân nhân bị kết án về một tội ít nghiêm trọng, nếu do nhu cầu chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà được người chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên đề nghị thì có thể được hoãn chấp hành hình phạt từ sáu tháng đến một năm.

Điều 232. Tạm đình chỉ thi hành án phạt tù.

1- Theo đề nghị của Viện kiểm sát hoặc của Ban giám thị trại giam, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có thể cho người bị kết án không phải là phần tử nguy hiểm được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong các trường hợp quy định tại các điểm 1, 2 và 4 Điều 231 Bộ luật này. Việc tạm đình chỉ để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm phải do Toà án cấp trên trực tiếp quyết định.

2- Thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt không tính vào thời gian chấp hành hình phạt.

Điều 233. Quản lý người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

1- Người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc quản lý. Họ không được tự ý đi nơi khác, nếu không được phép của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức quản lý họ.

2- Nếu trong thời gian được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt mà người bị kết án có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc định trốn thì Chánh án Toà án đã cho hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án huỷ quyết định đó và ra lệnh bắt họ chấp hành hình phạt.

Điều 234. Thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ và cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội.

1- Người bị kết án phạt tù được hưởng án treo và người bị kết án cải tạo không giam giữ được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn, hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc để giám sát, giáo dục.

2- Người bị kết án cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội được giao cho đơn vị kỷ luật của quân đội.

Điều 235. Thi hành hình phạt quản chế hoặc cấm cư trú.

Đối với người bị phạt quản chế thì sau khi chấp hành xong hình phạt tù, người bị kết án được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú để thi hành hình phạt quản chế. Người bị phạt cấm cư trú thì không được về những địa phương bị cấm cư trú mà phải đến ở nơi khác.

Điều 236. Thi hành hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản.

Quyết định đưa bản án phạt tiền hoặc tịch thu tài sản ra thi hành phải được gửi cho chấp hành viên và chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú.

Việc tịch thu tài sản được tiến hành theo quy định tại Điều 32 Bộ luật hình sự.

Chương 27:

GIẢM THỜI HẠN HOẶC MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT

Điều 237. Điều kiện để được giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt.

1- Người đang chấp hành hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội, cấm cư trú hoặc quản chế có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt theo quy định tại các Điều 49, 50, 51, 66 và 69 Bộ luật hình sự. Nếu họ chưa chấp hành hình phạt thì có thể được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

2- Người bị kết án tù được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách theo quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự.

Điều 238. Thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt.

1- Toà án có thẩm quyền quyết định giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt tù là Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án chấp hành hình phạt.

Việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành các hình phạt khác hoặc giảm thời gian thử thách thuộc thẩm quyền quyết định của Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực nơi người bị kết án chấp hành hình phạt hoặc chịu thử thách.

2- Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc rút ngắn thời gian thử thách phải có đề nghị hoặc nhận xét của cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành án quy định tại Điều 227 Bộ luật này.

3- Khi Toà án xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, một thành viên của Toà án trình bày vấn đề cần được xem xét, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Toà án ra quyết định chấp nhận hoặc bác đề nghị giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt hoặc rút ngắn thời gian thử thách.

Chương 28:

XOÁ ÁN

Điều 239. Đương nhiên xoá án.

Theo yêu cầu của người được đương nhiên xoá án theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự, Chánh án của Toà án đã xử sơ thẩm vụ án cấp giấy chứng nhận là họ đã được xoá án.

Điều 240. Xoá án do Toà án quyết định.

1- Trong những trường hợp quy định tại Điều 54Điều 55 Bộ luật hình sự, việc xoá án do Toà án quyết định. Người bị kết án phải có đơn gửi cho Toà án đã xử sơ thẩm vụ án kèm theo nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc.

2- Chánh án Toà án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để phát biểu ý kiến bằng văn bản về đơn xin xoá án. Nếu xét thấy đủ điều kiện thì Chánh án ra quyết định xoá án; trong trường hợp chưa đủ điều kiện thì ra quyết định bác đơn xin xoá án.

Phần thứ sáu:

XÉT LẠI BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT

Chương 29:

GIÁM ĐỐC THẨM

Điều 241. Tính chất của giám đốc thẩm.

Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án.

Điều 242. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi có một trong những căn cứ sau đây:

1- Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ;

2- Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

3- Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử;

4- Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.

Điều 243. Phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

Người bị kết án, các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật với những người quy định tại Điều 244 Bộ luật này.

Trong trường hợp phát hiện thấy những vi phạm pháp luật trong bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát và Toà án phải báo cho người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 244 Bộ luật này.

Điều 244. Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Những người sau đây có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:

1- Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp;

2- Phó chánh án Toà án nhân dân tối cao và Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới;

3- Chánh án Toà án quân sự cấp cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp dưới;

4- Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án cấp dưới.

Điều 245. Tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị.

Những người đã kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đó.

Điều 246. Kháng nghị.

1- Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải nói rõ lý do và được gửi cho:

a) Toà án đã ra bản án hoặc quyết định bị kháng nghị;

b) Toà án sẽ xử giám đốc thẩm;

c) Người bị kết án và những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị.

2- Khi không có những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, người có quyền kháng nghị phải trả lời cho người hoặc cơ quan, tổ chức đã phát hiện biết rõ lý do.

3- Trước khi bắt đầu phiên toà giám đốc thẩm, người đã kháng nghị có quyền bổ sung hoặc rút kháng nghị.

Điều 247. Thời hạn kháng nghị.

1- Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật.

2- Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.

Điều 248. Thẩm quyền giám đốc thẩm.

1- Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện; Uỷ ban thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án quân sự khu vực.

2- Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án nhân dân cấp tỉnh; Toà án quân sự cấp cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp quân khu.

3- Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà thuộc Toà án nhân dân tối cao.

4- Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những quyết định của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị.

Điều 249. Những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm.

Phiên toà giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền.

Khi xét thấy cần thiết, Toà án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà giám đốc thẩm.

Điều 250. Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm.

Hội đồng giám đốc thẩm Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao hoặc Toà án quân sự cấp cao gồm có ba thẩm phán. Nếu Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán giám đốc thẩm thì số thành viên tham gia xét xử phải chiếm hai phần ba tổng số các thành viên của Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán. Quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên tán thành thì mới có giá trị.

Điều 251. Thủ tục phiên toà giám đốc thẩm.

Trong phiên toà, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, nội dung của kháng nghị và đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến.

Nếu đã triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến việc kháng nghị thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu. Trong trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng giám đốc thẩm vẫn có thể tiến hành xét xử.

Điều 252. Thời hạn xét xử giám đốc thẩm.

Phiên toà giám đốc thẩm phải được tiến hành trong thời hạn bốn tháng kể từ ngày nhận kháng nghị.

Điều 253. Phạm vi giám đốc thẩm.

Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị.

Điều 254. Quyết định giám đốc thẩm.

Hội đồng giám đốc thẩm có quyền ra quyết định:

1- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

2- Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án;

3- Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại;

4- Sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Điều 255. Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.

Hội đồng giám đốc thẩm huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án, nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 89 Bộ luật này.

Điều 256. Huỷ bản án hoặc quyết định để điều tra lại hoặc xét xử lại.

Hội đồng giám đốc thẩm huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại trong những trường hợp quy định tại Điều 242 Bộ luật này. Nếu cần xét xử lại thì tuỳ trường hợp, Hội đồng giám đốc thẩm có thể quyết định xét xử lại từ cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Nếu bản án hoặc quyết định phúc thẩm có sai lầm nhưng bản án hoặc quyết định sơ thẩm đúng thì Hội đồng giám đốc thẩm chỉ huỷ bản án hoặc quyết định có sai lầm đó và giữ nguyên bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

Điều 257. Sửa bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng giám đốc thẩm không được tăng hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn, nhưng có quyền sửa hình phạt và áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn đối với những người bị kháng nghị và cả những người không bị kháng nghị theo hướng đó.

Điều 258. Hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm.

Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Điều 259. Điều tra lại, xét xử lại vụ án ở Toà án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm sau khi Hội đồng giám đốc thẩm sau khi Hội đồng giám đốc thẩm huỷ bản án.

Nếu Hội đồng giám đốc thẩm quyết định phải điều tra lại thì trong thời hạn năm ngày hồ sơ vụ án phải được trả lại cho Viện kiểm sát cùng cấp để điều tra lại theo thủ tục chung.

Nếu Hội đồng giám đốc thẩm quyết định xét xử lại ở cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm thì việc xét xử được tiến hành theo thủ tục chung.

Chương 30:

TÁI THẨM

Điều 260. Tính chất của tái thẩm.

Thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án quyết định đó.

Điều 261. Những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Những tình tiết được dùng làm căn cứ để kháng nghị tái thẩm là:

1- Lời khai của người làm chứng, kết luận giám định hoặc lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật;

2- Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai;

3- Vật chứng hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật.

Điều 262. Thông báo và xác minh những tình tiết mới được phát hiện.

1- Người bị kết án, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân có quyền thông báo cho Viện kiểm sát hoặc Toà án những tình tiết mới được phát hiện của vụ án. Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó.

2- Nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 261 Bộ luật này thì Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị tái thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền. Nếu không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát trả lời cho những cơ quan, tổ chức hoặc người đã phát hiện biết.

Điều 263. Những người có quyền kháng nghị tái thẩm.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân hoặc Toà án quân sự các cấp. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự các cấp.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự khu vực.

3- Bản kháng nghị phải được gửi cho người bị kết án và những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị.

Điều 264. Tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đã bị kháng nghị tái thẩm.

Những người đã kháng nghị theo thủ tục tái thẩm có quyền tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị.

Điều 265. Thời hạn kháng nghị tái thẩm.

1- Tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án phải tiến hành trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 45 Bộ luật hình sự và không được quá một năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện.

2- Tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian và được tiến hành trong cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.

Điều 266. Thẩm quyền tái thẩm.

1- Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh tái thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện; Uỷ ban thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu tái thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự khu vực.

2- Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao tái thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp tỉnh; Toà án quân sự cấp cao tái thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp quân khu.

3- Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tái thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà thuộc Toà án nhân dân tối cao.

4- Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tái thẩm đối với các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Điều 267. Việc tiến hành tái thẩm.

Những quy định tại các Điều 249, 250, 251 và 252 Bộ luật này cũng áp dụng đối với việc tái thẩm vụ án.

Điều 268. Các quyết định của Hội đồng tái thẩm.

Hội đồng tái thẩm có quyền ra quyết định:

1- Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

2- Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại;

3- Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị và đình chỉ vụ án.

Điều 269. Hiệu lực của quyết định tái thẩm.

Quyết định của Hội đồng tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Điều 270. Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án.

Sau khi bản án hoặc quyết định bị huỷ, việc điều tra lại hoặc xét xử sơ thẩm lại được tiến hành theo thủ tục chung.

Phần thứ bảy:

THỦ TỤC ĐẶC BIỆT

Chương 31:

THỦ TỤC VỀ NHỮNG VỤ ÁN MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Điều 271. Phạm vi áp dụng.

Thủ tục tố tụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này.

Điều 272. Điều tra, truy tố và xét xử.

1- Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến hành tố tụng về những vụ án người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, về khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm của người chưa thành niên.

2- Khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử cần phải xác định rõ:

a) Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên;

b) Điều kiện sinh sống và giáo dục;

c) Có hay không có những người lớn tuổi xúi giục;

d) Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

Điều 273. Bắt, tạm giữ, tạm giam.

Nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 62, 63, 64, 68 và 71 Bộ luật này thì có thể bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng và theo quy định tại Điều 58 Bộ luật hình sự.

Điều 274. Việc giám sát bị can, bị cáo chưa thành niên.

1- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng.

2- Những người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó.

Điều 275. Bào chữa.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị can, bị cáo, nếu bị can, bị cáo không tự lựa chọn được. Đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo.

Điều 276. Việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội.

1- Đại diện của gia đình bị can, bị cáo, thầy giáo, cô giáo, đại diện của nhà trường, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và tổ chức xã hội khác nơi bị can, bị cáo học tập, lao động và sinh sống có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án.

2- Trong trường hợp cần thiết, việc hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra phải có mặt đại diện của gia đình bị can. Đại diện gia đình có thể hỏi bị can nếu được điều tra viên đồng ý, được trình bày chứng cứ, đưa ra yêu cầu, khiếu nại; đọc hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra.

3- Tại phiên toà xét xử phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường hoặc tổ chức xã hội.

Điều 277. Xét xử.

1- Thành phần Hội đồng xét xử phải có một hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

Trong trường hợp cần thiết, Toà án có thể quyết định xét xử kín.

2- Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải quyết định hình phạt đối với bị cáo thì Toà án áp dụng một trong những biện pháp tư pháp quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự.

Điều 278. Chấp hành hình phạt tù.

1- Người chưa thành niên phạm tội chấp hành hình phạt tù theo chế độ giam giữ riêng do pháp luật quy định.

Không được giam chung người chưa thành niên với người thành niên.

2- Người chưa thành niên bị kết án phải được học nghề hoặc học văn hoá trong thời gian chấp hành hình phạt tù.

3- Nếu người chưa thành niên đang chấp hành hình phạt tù đã đủ 18 tuổi thì phải chuyển người đó sang chế độ giam người đã thành niên.

4- Đối với người chưa thành niên đã chấp hành xong hình phạt tù, Ban giám thị trại giam phải phối hợp với chính quyền và tổ chức xã hội ở xã, phường, thị trấn để giúp người đó trở về sống bình thường trong xã hội.

Điều 279. Chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp và giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Người chưa thành niên bị kết án có thể được chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp hoặc được giảm thời hạn chấp hành hình phạt khi có đủ các điều kiện quy định tại các Điều 61, 62 hoặc 66 Bộ luật hình sự.

Điều 280. Xoá án.

Việc xoá án đối với người chưa thành niên phạm tội được tiến hành theo thủ tục chung khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 67 Bộ luật hình sự.

Chương 32

THỦ TỤC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH

Điều 281. Điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

1- Khi có nghi ngờ người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì tuỳ theo giai đoạn tố tụng, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải trưng cầu giám định pháp y.

Căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Viện kiểm sát hoặc Toà án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2- Việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh do Viện kiểm sát quyết định trong giai đoạn điều tra hoặc do Toà án quyết định trong giai đoạn xét xử hoặc thi hành án.

Điều 282. Điều tra.

1- Đối với vụ án có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 281 Bộ luật này, cơ quan điều tra phải làm sáng tỏ:

a) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra;

b) Tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội;

c) Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình hay không.

2- Khi tiến hành tố tụng, cơ quan điều tra phải bảo đảm có người bào chữa tham gia tố tụng từ khi xác định là người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mắc bệnh tâm thần. Đại diện hợp pháp của người đó có thể tham gia tố tụng trong trường hợp cần thiết.

Điều 283. Kết thúc điều tra.

Khi xét kết luận điều tra, Viện kiểm sát có thể ra một trong những quyết định sau đây:

1- Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án;

2- Đình chỉ vụ án và quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

3- Truy tố bị can trước Toà án.

Điều 284. Xét xử.

1- Toà án có thể ra một trong những quyết định sau đây:

a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

b) Đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

c) Tạm đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

d) Trả lại hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung.

2- Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Toà án có thể giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vấn đề khác liên quan đến vụ án.

Điều 285. Khiếu nại, kháng nghị, kháng cáo.

1- Khi quyết định của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh bị khiếu nại thì vụ án phải được đưa ra xét xử sơ thẩm ở Toà án cùng cấp.

2- Việc kháng nghị hoặc kháng cáo đối với quyết định của Toà án về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được tiến hành như đối với bản án sơ thẩm.

3- Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh vẫn có hiệu lực thi hành mặc dù có khiếu nại, kháng nghị, kháng cáo.

Điều 286. Thực hiện và đình chỉ thực hiện biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

1- Biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện ở một cơ sở chuyên khoa y tế do Viện kiểm sát hoặc Toà án chỉ định.

2- Khi có báo cáo của cơ sở chữa bệnh, đơn yêu cầu của thân nhân người bị bắt buộc chữa bệnh hoặc yêu cầu của Viện kiểm sát thì trên cơ sở kết luận của Hội đồng giám định y khoa, Viện kiểm sát hoặc Toà án đã ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh có thể ra quyết định đình chỉ thực hiện biện pháp bắt buộc chữa bệnh, đồng thời có thể quyết định phục hồi tố tụng đã bị tạm đình chỉ.

Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 28 tháng 6 năm 1988.

 

 

Võ Chí Công

(Đã ký)

 

- Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:

I- VỀ HIỆU LỰC THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-1-1989. Kể từ ngày đó các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án các cấp đều phải áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành các bản án hình sự. Tuy nhiên:

- Đối với những vụ án mà tính từ ngày khởi tố đến ngày 1-1-1989 đã hết hoặc sắp hết hạn điều tra theo quy định tại điều 97 Bộ luật tố tụng hình sự thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh trở lên được gia hạn thêm không quá 3 tháng.

- Đối với những vụ án mà tính từ ngày thụ lý đến ngày 1-1-1989 đã hết hoặc sắp hết hạn truy tố theo quy định tại điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự thì Viện trưởng Viện kiểm sát được gia hạn thêm không quá 2 tháng.

- Đối với những vụ án mà tính từ ngày 1-1-1989 đã hết hoặc sắp hết hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điều 151 hoặc điều 215 Bộ luật tố tụng hình sự thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực được gia hạn thêm không quá 2 tháng; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự cấp cao và Chánh tòa các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao được gia hạn thêm không quá 3 tháng.

Các thời hạn gia hạn nói trên đều tính từ ngày 1-1-1989. Các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải giải quyết cho xong những việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình trong các thời hạn đó.

Đối với các bị can hoặc bị cáo trong các vụ án đã được phép gia hạn thêm nói trên, khi hết thời hạn tạm giam theo quy định tại các điều 71, 142 và 152 Bộ luật tố tụng hình sự thì nói chung phải trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Tuy nhiên, đối với người phạm tội là phần tử nguy hiểm cần phải tiếp tục tạm giam, nếu vụ án đang ở giai đoạn điều tra, truy tố thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp gia hạn tạm giam, nếu vụ án đang ở giai đoạn xét xử thì Chánh án Tòa án gia hạn tạm giam, nhưng không được vượt quá thời hạn đã được gia hạn thêm để giải quyết vụ án như đã nêu ở trên. Thí dụ: Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã quyết định gia hạn thêm 3 tháng để xét xử vụ án thì cũng được quyết định gia hạn tạm giam bị cáo không quá 3 tháng đó.

Xem nội dung VB
- Đối với những vụ án đã thụ lý trước ngày 1-1-1989 được hướng dẫn bởi Thông tư 01-TAND/TT-1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Để kịp thời thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trong khi chờ Thông tư liên ngành và ý kiến của Hội đồng Nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp thi hành ngay một số quy định sau đây:

1- Việc gia hạn thời hạn xét xử và thời hạn tạm giam đối với những vụ án đã thụ lý trước ngày 1-1-1989.

a) Đối với các vụ án mà đến ngày 1-1-1989 đã hết hoặc sắp hết thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc thời hạn xét xử theo quy định của các điều 151, 215, 252, 267 Bộ luật tố tụng hình sự, thì các Tòa án được phép gia hạn thêm một thời gian và phải giải quyết các vụ án đó trong các thời hạn như sau:

- Các Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn 45 ngày (tức là trước ngày 16-2-1989).

- Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm trong thời hạn 3 tháng (tức là trước ngày 1-4-1989); phải xét xử phúc thẩm trong thời hạn 2 tháng (tức là trước ngày 1-3-1989) và phải xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm trong thời hạn 3 tháng (tức là trước ngày 1-4-1989).

- Các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao phải xét xử phúc thẩm trong thời hạn 3 tháng (tức là trước ngày 1-4-1989).

- Tòa án quân sự cấp cao xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm trong thời hạn 3 tháng (tức là trước ngày 1-4-1989).

b) Đối với các bị cáo trong các vụ án đã được phép gia hạn thêm nói trên mà đang bị tạm giam thì thời hạn tạm giam theo quy định tại điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự tính từ ngày Tòa án nhận hồ sơ vụ án.

Do đó:

- Đối với các vụ án mà Tòa án cấp huyện đã thụ lý trong năm 1988, nếu bị cáo đã bị tạm giam quá 75 ngày thì phải trả tự do ngay cho bị cáo hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

- Đối với các vụ án mà Tòa án cấp tỉnh trở lên thụ lý trong năm 1988, nếu bị cáo đã bị tạm giam quá 4 tháng thì nói chung cũng phải trả tự do ngay cho bị cáo hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Riêng đối với những phần tử nguy hiểm như những tên phạm tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, giết người, cướp… thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên được gia hạn tạm giam thêm cho đến ngày xét xử.

2- Đối với các vụ án đã xét xử xong, Tòa án phải đánh máy và giao bản sao bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo đúng quy định tại điều 203 Bộ luật tố tụng hình sự.

3- Khi giải thích quyền kháng cáo của bị cáo, Tòa án cần nói rõ là trong hạn luật định bị cáo phải nộp đơn kháng cáo tại Tòa án cấp sơ thẩm, nhưng cũng có thể gửi thêm đơn kháng cáo cho Tòa án cấp trên.

Tòa án cấp phúc thẩm khi nhận được đơn kháng cáo của bị cáo cần báo ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm biết.

4- Trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp trên trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị (theo quy định tại khoản 2 điều 211 Bộ luật tố tụng hình sự).

5- Bộ luật tố tụng hình sự quy định thời hạn xét xử phúc thẩm rất ngắn (của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu là 30 ngày, của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự cấp cao là 60 ngày), cho nên để tránh tình trạng phải hoãn phiên tòa vì không dẫn giải được bị cáo đến phiên tòa, Tòa án nhân dân tối cao đã đề nghị Bộ Nội vụ chỉ thị cho Công an các địa phương như sau: Đối với những bị cáo đang bị tạm giam và bị Tòa án cấp sơ thẩm phạt tù mà có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án sơ thẩm thì chưa đưa họ đi các trại cải tạo ở ngoài địa phương. Vì vậy, khi bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị, Tòa án cấp sơ thẩm cần thông báo ngay cho cơ quan Công an để giữ bị cáo lại trại giam địa phương để bảo đảm cho việc xử phúc thẩm, nhất là những vụ án do Tòa án nhân dân tối cao xử phúc thẩm.

Trong khi thi hành Thông tư này, nếu gặp khó khăn vướng mắc gì, các Tòa án cần báo cáo gấp về Tòa án nhân dân tối cao để hướng dẫn bổ sung.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
Đối với những vụ án đã thụ lý trước ngày 1-1-1989 được hướng dẫn bởi Thông tư 01-TAND/TT-1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
II- THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỀ HÌNH SỰ CỦA CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC

(Gọi tắt là Tòa án cấp huyện)

Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự quy định là các Tòa án cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống, trừ những tội sau đây:

a) Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội quy định tại các điều 89, 90, 91, 92, 93, 101 (khoản 30), 102, 179, 231, 232 Bộ luật hình sự.

Khi thi hành điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự cần lưu ý một số điểm như sau:

1- Mức hình phạt 7 năm tù trở xuống là mức hình phạt do luật quy định chứ không phải mức hình phạt do Tòa án quyết định. Do đó, các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng mà mức hình phạt cao nhất do luật quy định là từ 7 năm tù trở xuống (trừ các tội phạm được nêu ở các điểm a, b của khoản 1 điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự) đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện.

2- Nếu một điều luật có nhiều khoản thì những trường hợp phạm tội thuộc khoản có mức hình phạt cao nhất từ 7 năm tù trở xuống là thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện, không kể thuộc khoản thứ mấy của điều luật. Thí dụ: Điều 109 Bộ luật hình sự về tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” có 4 khoản, mức hình phạt cao nhất của khoản 1 và 3 năm tù, của khoản 2 là 7 năm tù, của khoản 3 là 20 năm tù và của khoản 4 là 2 năm tù, thì Tòa án cấp huyện được xét xử những trường hợp phạm tội quy định ở các khoản 1, 2 và 4. Điều 101 Bộ luật hình sự về tội giết người có 4 khoản, trong đó mức hình phạt cao nhất của khoản 4 là 2 năm tù, thì trường hợp phạm tội quy định ở khoản 4 thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện. Riêng khoản 3 của điều 101 Bộ luật hình sự có mức hình phạt cao nhất là 5 năm tù, nhưng theo quy định của điểm b khoản 1 điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự thì trường hợp này không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện.

3- Tòa án cấp huyện có thẩm quyền xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, nếu các tội đó đều có mức hình phạt do luật quy định là 7 năm tù trở xuống (trừ các tội quy định tại các điểm a, b khoản 1 điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự).

Tòa án cấp huyện cũng có thẩm quyền xét xử người đang phải chấp hành một bản án (không kể đó là bản án của Tòa án cấp nào) mà lại bị truy tố về một tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện, không kể là tội phạm này được thực hiện trước hay sau khi có bản án đang phải chấp hành. Tuy nhiên, đối với những người đã bị phạt tử hình, hoặc bị phạt tù chung thân mà chưa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt, thì Viện kiểm sát nhân dân tỉnh hoặc Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu truy tố tội phạm mới của họ để Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử:

Trong khi thực hiện thẩm quyền trên, nếu cần phải tổng hợp hình phạt thì phải theo đúng các quy định tại các điều 41, 42, và 43 Bộ luật hình sự và văn bản hướng dẫn về tổng hợp hình phạt của Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời cần chú ý là:

Tòa án cấp huyện quyết định hình phạt chung theo điều 41 Bộ luật hình sự không vượt quá 7 năm tù. Hình phạt chung cho các bản án theo khoản 1 điều 42 Bộ luật hình sự không được vượt quá 7 năm tù nếu tội phạm (hoặc các tội phạm) của các bản án đang phải chấp hành thuộc khung hình phạt có mức cao nhất từ 7 năm tù trở xuống (*) và có thể vượt quá 7 năm tù nếu tội phạm (hoặc các tội phạm) của bản án đang phải chấp hành thuộc khung hình phạt có mức cao nhất trên 7 năm tù. Hình phạt chung cho các bản án theo khoản 2 điều 42 Bộ luật hình sự có thể vượt quá 7 năm tù.

4- Khoản 2 điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự quy định là Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu (gọi tắt là Tòa án cấp tỉnh) có quyền lấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện lên để xét xử, nhưng không nói là loại vụ án nào, do đó, Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát và Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh cần căn cứ vào khả năng thực tế của các thẩm phán, kiểm sát viên và điều tra viên của cấp huyện ở địa phương mình mà xác định những loại vụ án cần lấy lên để điều tra, truy tố và xét xử ở cấp tỉnh. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp tỉnh nên lấy lên để điều tra, truy tố và xét xử các vụ án sau đây:

- Vụ án phức tạp (có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cầp, nhiều ngành).

- Vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sĩ quan công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài, người có chức sắc cao trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.

- Khi có vụ án thuộc các loại trên đây, cơ quan điều tra cấp huyện trao đổi với Viện kiểm sát cùng cấp và chuyển hồ sơ lên cơ quan điều tra cấp tỉnh để điều tra. Nếu hồ sơ đã chuyển sang Viện kiểm sát cấp huyện thì Viện kiểm sát cấp huyện chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cấp tỉnh để Viện kiểm sát cấp tỉnh truy tố trước Tòa án cấp tỉnh. Nếu Viện kiểm sát cấp huyện đã truy tố để xét xử ở Tòa án cấp huyện, thì Tòa án cấp huyện trả hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát chuyển hồ sơ lên Viện kiểm sát cấp tỉnh để truy tố trước Tòa án cấp tỉnh.

Đối với những vụ án mà Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp tỉnh thấy cần được xét xử ở cấp tỉnh thì phải chuyển ngay lên cấp tỉnh để truy tố và xét xử ở cấp tỉnh.

Nếu vụ án do Viện kiểm sát cấp tỉnh truy tố ở Tòa án cấp tỉnh, nhưng Tòa án cấp tỉnh thấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện và không thuộc trường hợp cần thiết xét xử ở cấp tỉnh thì Tòa án cấp tỉnh trao đổi với Viện kiểm sát cùng cấp để nếu Viện kiểm sát nhất trí, thì Tòa án cấp tỉnh chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp huyện xét xử và Viện kiểm sát cấp tỉnh ra quyết định ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp huyện thực hành quyền công tố tại phiên tòa mà không phải làm lại cáo trạng; Nếu Viện kiểm sát không nhất trí thì không chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp huyện xét xử.

Thông tư liên ngành số 01/TT-LB ngày 26-7-1986 về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp kể từ ngày 1-1-1989 không áp dụng nữa.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-VKSNDTC-BTP/TTLT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

2) Cũng theo Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 12-1-1989 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án cấp huyện quyết định hình phạt chung của nhiều bản án theo khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự không vượt quá 7 năm tù nếu tội phạm (hoặc các tội phạm) của bản án đang phải chấp hành thuộc khung hình phạt có mức cao nhất là từ 7 năm trở xuống. Nay theo quy định mới về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự thì hình phạt chung không bị giới hạn bởi mức cao nhất của khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm; cho nên, khi tổng hợp các hình phạt tù có thời hạn của nhiều bản án theo khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự, Tòa án cấp huyện có thể quyết định hình phạt chung vượt quá 7 năm tù, nhưng không vượt quá 20 năm tù.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
Khoản này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-VKSNDTC-BTP/TTLT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
III- ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VÀ XÉT XỬ

Khi áp dụng các điều 62, 70, 141, 142, 152, 201 và 202 Bộ luật tố tụng hình sự cần lưu ý một số điểm sau đây:

1- Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kiểm sát viên phải kiểm tra về biện pháp ngăn chặn đối với bị can để đề xuất với Viện trưởng quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này.

Trong trường hợp bị can đang bị tạm giam mà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành cáo trạng thì Viện kiểm sát có thể ra lệnh tạm giam, nhưng không được quá 30 ngày.

2- Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Riệng việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam phải do Chánh án hoặc phó Chánh án quyết định.

3- Đối với các bị can đang bị tam giam mà Tòa án cấp sơ thẩm thấy cần tiếp tục tạm giam để xét xử, thì dù thời hạn tạm giam theo lệnh cũ còn hay hết, Tòa án vẫn phải ra lệnh tạm giam mới. Thời hạn tạm giam là 45 ngày (nếu vụ án do Tòa án cấp huyện thụ lý), 3 tháng (nếu vụ án do Tòa án cấp tỉnh thụ lý) tính từ ngày nhận hồ sơ. Trong trường hợp đặc biệt cần gia hạn tạm giam, thì trước khi hết hạn tạm giam, Tòa án cấp dưới phải báo cáo sớm để Chánh án Tòa án cấp trên kịp thời quyết định. Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp được gia hạn tạm giam một lần và không được quá một tháng.

Trường hợp đặc biệt nói trên là trường hợp thời hạn tạm giam bị cáo đã hết mà không thể cho bị cáo tại ngoại (vì bị cáo là phần tử nguy hiểm hoặc có căn cứ chứng tỏ bị cáo có thể trốn hoặc gây khó khăn cho việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) mà chưa thể xét xử được ngay vì có lý do chính đang (như có bị cáo trong cùng vụ án đang bị truy nã hoặc có việc đột xuất phải hoãn mở phiên tòa).

Đối với vụ án do Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao thụ lý để xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm thì thời hạn tạm giam cũng chỉ là 3 tháng. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm 1 tháng.

Vì chỉ trong trường hợp đặc biệt mới được gia hạn tạm giam bị cáo và chỉ được gia hạn tạm giam 1 lần, cho nên Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án trong thời gian đó (*).

4- Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, cho nên VKS hoặc Tòa án chỉ áp dụng đối với các bị can phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm một trong những tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội “tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 1 năm” là tội có mức cao nhất của khung hình phạt trên 1 năm tù. Nếu bị can phạm các tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ 1 năm tù trở xuống (như các tội quy định tại các điều 121, 123, 125, 126… BLHS) thì không được tạm giam họ. Đối với những điều luật có nhiều khoản thì những trường hợp bị can phạm tội quy định ở khoản có mức cao nhất của khung hình phạt từ 1 năm trở xuống (thí dụ: khoản 1 của điều 120; khoản 1 và 2 của điều 124 BLHS) cũng không được tạm giam họ.

Đối với các bị can được tại ngoại thì VKS chỉ tạm giam để truy tố và Tòa án chỉ tạm giam để xét xử trong những trường hợp thật cần thiết. Trái lại đối với các bị can đang bị tạm giam thì VKS hoặc Tòa án cần xem xét để nếu không còn cần thiết phải tiếp tục tạm giam nữa hoặc thời hạn tạm giam đã hết, thì phải ra lệnh trả tự do ngay hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang phải nuôi con dưới 12 tháng, là người già yếu, người đang bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng, thì không tạm giam, mà nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (như bắt phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú hoặc cho bảo lĩnh); chỉ trong trường hợp đặc biệt (như họ là phần tử nguy hiểm hoặc có thể trốn, hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) thì mới tạm giam họ (điều 70 Bộ luật tố tụng hình sự).

Đối với những trường hợp quy định tại điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử phải tuyên trong bản án là trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Những người được Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa thì được cấp ngay một bản trích lục bản án. Trại giam không được tiếp tục tạm giam họ.

5- Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm phạt tù giam với thời hạn tù dài hơn thời gian đã tạm giam, thì Tòa án phải tuyên trong bản án sơ thẩm là tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

6- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể quyết định bắt ngay bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án, nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục gây án, và quyết định này phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và được nêu rõ trong phần nhận định cũng như phần quyết định của bản án (khoản 2 điều 173, điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự).

7- Đối với bị cáo được tại ngoại thì Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên tình trạng của họ như khi hồ sơ được chuyển đến. Tuy nhiên, đối với những bị cáo đang bị giam mà khi chuẩn bị xét xử phúc thẩm có nhiều khả năng là họ bị oan hoặc không đến mức phải bị phạt tù, hoặc bị cáo cần được ra ngoài để chữa bệnh, sinh đẻ, thì Chánh án hoặc phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, thẩm phán Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao được phân công chủ tọa phiên tòa phúc thẩm có thể quyết định trả tự do hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để chở xét xử phúc thẩm.

8- Cơ quan công an thi hành các quyết định về bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam và trả tự do của Tòa án cũng như của Viện kiểm sát.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
III- ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VÀ XÉT XỬ

Khi áp dụng các điều 62, 70, 141, 142, 152, 201 và 202 Bộ luật tố tụng hình sự cần lưu ý một số điểm sau đây:

1- Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kiểm sát viên phải kiểm tra về biện pháp ngăn chặn đối với bị can để đề xuất với Viện trưởng quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này.

Trong trường hợp bị can đang bị tạm giam mà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành cáo trạng thì Viện kiểm sát có thể ra lệnh tạm giam, nhưng không được quá 30 ngày.

2- Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Riệng việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam phải do Chánh án hoặc phó Chánh án quyết định.

3- Đối với các bị can đang bị tam giam mà Tòa án cấp sơ thẩm thấy cần tiếp tục tạm giam để xét xử, thì dù thời hạn tạm giam theo lệnh cũ còn hay hết, Tòa án vẫn phải ra lệnh tạm giam mới. Thời hạn tạm giam là 45 ngày (nếu vụ án do Tòa án cấp huyện thụ lý), 3 tháng (nếu vụ án do Tòa án cấp tỉnh thụ lý) tính từ ngày nhận hồ sơ. Trong trường hợp đặc biệt cần gia hạn tạm giam, thì trước khi hết hạn tạm giam, Tòa án cấp dưới phải báo cáo sớm để Chánh án Tòa án cấp trên kịp thời quyết định. Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp được gia hạn tạm giam một lần và không được quá một tháng.

Trường hợp đặc biệt nói trên là trường hợp thời hạn tạm giam bị cáo đã hết mà không thể cho bị cáo tại ngoại (vì bị cáo là phần tử nguy hiểm hoặc có căn cứ chứng tỏ bị cáo có thể trốn hoặc gây khó khăn cho việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) mà chưa thể xét xử được ngay vì có lý do chính đang (như có bị cáo trong cùng vụ án đang bị truy nã hoặc có việc đột xuất phải hoãn mở phiên tòa).

Đối với vụ án do Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao thụ lý để xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm thì thời hạn tạm giam cũng chỉ là 3 tháng. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm 1 tháng.

Vì chỉ trong trường hợp đặc biệt mới được gia hạn tạm giam bị cáo và chỉ được gia hạn tạm giam 1 lần, cho nên Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án trong thời gian đó (*).

4- Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, cho nên VKS hoặc Tòa án chỉ áp dụng đối với các bị can phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm một trong những tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội “tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 1 năm” là tội có mức cao nhất của khung hình phạt trên 1 năm tù. Nếu bị can phạm các tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ 1 năm tù trở xuống (như các tội quy định tại các điều 121, 123, 125, 126… BLHS) thì không được tạm giam họ. Đối với những điều luật có nhiều khoản thì những trường hợp bị can phạm tội quy định ở khoản có mức cao nhất của khung hình phạt từ 1 năm trở xuống (thí dụ: khoản 1 của điều 120; khoản 1 và 2 của điều 124 BLHS) cũng không được tạm giam họ.

Đối với các bị can được tại ngoại thì VKS chỉ tạm giam để truy tố và Tòa án chỉ tạm giam để xét xử trong những trường hợp thật cần thiết. Trái lại đối với các bị can đang bị tạm giam thì VKS hoặc Tòa án cần xem xét để nếu không còn cần thiết phải tiếp tục tạm giam nữa hoặc thời hạn tạm giam đã hết, thì phải ra lệnh trả tự do ngay hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang phải nuôi con dưới 12 tháng, là người già yếu, người đang bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng, thì không tạm giam, mà nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (như bắt phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú hoặc cho bảo lĩnh); chỉ trong trường hợp đặc biệt (như họ là phần tử nguy hiểm hoặc có thể trốn, hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) thì mới tạm giam họ (điều 70 Bộ luật tố tụng hình sự).

Đối với những trường hợp quy định tại điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử phải tuyên trong bản án là trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Những người được Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa thì được cấp ngay một bản trích lục bản án. Trại giam không được tiếp tục tạm giam họ.

5- Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm phạt tù giam với thời hạn tù dài hơn thời gian đã tạm giam, thì Tòa án phải tuyên trong bản án sơ thẩm là tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

6- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể quyết định bắt ngay bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án, nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục gây án, và quyết định này phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và được nêu rõ trong phần nhận định cũng như phần quyết định của bản án (khoản 2 điều 173, điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự).

7- Đối với bị cáo được tại ngoại thì Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên tình trạng của họ như khi hồ sơ được chuyển đến. Tuy nhiên, đối với những bị cáo đang bị giam mà khi chuẩn bị xét xử phúc thẩm có nhiều khả năng là họ bị oan hoặc không đến mức phải bị phạt tù, hoặc bị cáo cần được ra ngoài để chữa bệnh, sinh đẻ, thì Chánh án hoặc phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, thẩm phán Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao được phân công chủ tọa phiên tòa phúc thẩm có thể quyết định trả tự do hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để chở xét xử phúc thẩm.

8- Cơ quan công an thi hành các quyết định về bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam và trả tự do của Tòa án cũng như của Viện kiểm sát.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
3. Điều 70 về tạm giam được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 70. Tạm giam

1. Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng;

b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

2. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ trường hợp đặc biệt.

3. Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 62 Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 62 Bộ luật này phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn không quá ba ngày, kể từ khi nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện trưởng Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn.

4. Cơ quan ra lệnh tạm giam phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và phải thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi các Điểm 1, 2, 3 Công văn 481-NCPL năm 1992

Trong thời gian vừa qua một số Toà án đã có những thiếu sót trong việc áp dụng thay đổi biện pháp ngăn chặn là tạm giam, hoãn thi hành án phạt tù, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, giảm thời gian chấp hành hình phạt tù, miễn chấp hành hình phạt tù... Những thiếu sót này đã dẫn tới những trường hợp không thể mở đươc phiên toà vì bị cáo không đến phiên toà (thậm chí có trường hợp bị cáo được trả tự do trước khi xét xử đã trốn ra nước ngoài), không bắt được người bị phạt tù để buộc chấp hành hình phạt, người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trốn tránh việc tiếp tục chấp hành hình phạt (thậm chí có trường hợp bỏ trốn ra nước ngoài sau khi được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù)... Những thiếu sót này đã gây thiệt hai, gây khó khăn cho công tác xét xử và thi hành án, gây dư luận xấu trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín của ngành Toà án. Để khắc phục những thiếu sót này, Toà án nhân dân tối cao yêu cầu các Toà án các cấp lưu ý một số điểm sau:

1. Đối với bị can, bị cáo phạm tội thuộc các trường hợp nghiêm trọng, đặc biệt là đối với những người phạm tội thuộc loại tham nhũng (tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, nhận hối lộ, cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, lập quỹ trái phép, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ hoặc lạm quyền , lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản công dân...), buôn lậu, buôn bán các chất ma tuý... nếu họ chưa bị tạm giam thì Toà án cần ra lệnh tạm giam họ để bảo đảm cho sự có mặt của họ tại phiên toà, cũng như để bảo đảm cho việc thi hành án khi họ bị phạt tù.

Theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự thì không tạm giam bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà họ có nơi cư trú rõ ràng, trừ trường hợp đặc biệt. "Trường hợp đặc biệt" theo Điều luật này cần hiểu là các trường hợp bị can, bị cáo là phần tử nguy hiểm, phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

2. Đối với các bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên một năm thì Toà án cần ra lệnh tạm giam họ nếu họ không có nơi cư trú rõ ràng hoặc cư trú thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác. Trong các trường hợp này Toà án cần sớm mở phiên toà để xét xử vụ án.

3. Đối với các bị can, bị cáo đang bị tạm giam thì tuyệt đối không được trả tự do cho họ vì các lý do như trả tự do để họ đi định cư ở nước ngoài, để đưa tang người thân thích: tuyệt đối không được trả tự do cho bị can, bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Điều này được hướng dẫn bởi các Điểm 1, 2, 3 Công văn 481-NCPL năm 1992
- Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố và xét xử được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
III- ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VÀ XÉT XỬ

Khi áp dụng các điều 62, 70, 141, 142, 152, 201 và 202 Bộ luật tố tụng hình sự cần lưu ý một số điểm sau đây:

1- Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kiểm sát viên phải kiểm tra về biện pháp ngăn chặn đối với bị can để đề xuất với Viện trưởng quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này.

Trong trường hợp bị can đang bị tạm giam mà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành cáo trạng thì Viện kiểm sát có thể ra lệnh tạm giam, nhưng không được quá 30 ngày.

2- Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Riệng việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam phải do Chánh án hoặc phó Chánh án quyết định.

3- Đối với các bị can đang bị tam giam mà Tòa án cấp sơ thẩm thấy cần tiếp tục tạm giam để xét xử, thì dù thời hạn tạm giam theo lệnh cũ còn hay hết, Tòa án vẫn phải ra lệnh tạm giam mới. Thời hạn tạm giam là 45 ngày (nếu vụ án do Tòa án cấp huyện thụ lý), 3 tháng (nếu vụ án do Tòa án cấp tỉnh thụ lý) tính từ ngày nhận hồ sơ. Trong trường hợp đặc biệt cần gia hạn tạm giam, thì trước khi hết hạn tạm giam, Tòa án cấp dưới phải báo cáo sớm để Chánh án Tòa án cấp trên kịp thời quyết định. Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp được gia hạn tạm giam một lần và không được quá một tháng.

Trường hợp đặc biệt nói trên là trường hợp thời hạn tạm giam bị cáo đã hết mà không thể cho bị cáo tại ngoại (vì bị cáo là phần tử nguy hiểm hoặc có căn cứ chứng tỏ bị cáo có thể trốn hoặc gây khó khăn cho việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) mà chưa thể xét xử được ngay vì có lý do chính đang (như có bị cáo trong cùng vụ án đang bị truy nã hoặc có việc đột xuất phải hoãn mở phiên tòa).

Đối với vụ án do Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao thụ lý để xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm thì thời hạn tạm giam cũng chỉ là 3 tháng. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm 1 tháng.

Vì chỉ trong trường hợp đặc biệt mới được gia hạn tạm giam bị cáo và chỉ được gia hạn tạm giam 1 lần, cho nên Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án trong thời gian đó (*).

4- Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, cho nên VKS hoặc Tòa án chỉ áp dụng đối với các bị can phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm một trong những tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội “tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 1 năm” là tội có mức cao nhất của khung hình phạt trên 1 năm tù. Nếu bị can phạm các tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ 1 năm tù trở xuống (như các tội quy định tại các điều 121, 123, 125, 126… BLHS) thì không được tạm giam họ. Đối với những điều luật có nhiều khoản thì những trường hợp bị can phạm tội quy định ở khoản có mức cao nhất của khung hình phạt từ 1 năm trở xuống (thí dụ: khoản 1 của điều 120; khoản 1 và 2 của điều 124 BLHS) cũng không được tạm giam họ.

Đối với các bị can được tại ngoại thì VKS chỉ tạm giam để truy tố và Tòa án chỉ tạm giam để xét xử trong những trường hợp thật cần thiết. Trái lại đối với các bị can đang bị tạm giam thì VKS hoặc Tòa án cần xem xét để nếu không còn cần thiết phải tiếp tục tạm giam nữa hoặc thời hạn tạm giam đã hết, thì phải ra lệnh trả tự do ngay hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang phải nuôi con dưới 12 tháng, là người già yếu, người đang bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng, thì không tạm giam, mà nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (như bắt phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú hoặc cho bảo lĩnh); chỉ trong trường hợp đặc biệt (như họ là phần tử nguy hiểm hoặc có thể trốn, hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) thì mới tạm giam họ (điều 70 Bộ luật tố tụng hình sự).

Đối với những trường hợp quy định tại điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử phải tuyên trong bản án là trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Những người được Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa thì được cấp ngay một bản trích lục bản án. Trại giam không được tiếp tục tạm giam họ.

5- Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm phạt tù giam với thời hạn tù dài hơn thời gian đã tạm giam, thì Tòa án phải tuyên trong bản án sơ thẩm là tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

6- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể quyết định bắt ngay bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án, nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục gây án, và quyết định này phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và được nêu rõ trong phần nhận định cũng như phần quyết định của bản án (khoản 2 điều 173, điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự).

7- Đối với bị cáo được tại ngoại thì Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên tình trạng của họ như khi hồ sơ được chuyển đến. Tuy nhiên, đối với những bị cáo đang bị giam mà khi chuẩn bị xét xử phúc thẩm có nhiều khả năng là họ bị oan hoặc không đến mức phải bị phạt tù, hoặc bị cáo cần được ra ngoài để chữa bệnh, sinh đẻ, thì Chánh án hoặc phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, thẩm phán Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao được phân công chủ tọa phiên tòa phúc thẩm có thể quyết định trả tự do hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để chở xét xử phúc thẩm.

8- Cơ quan công an thi hành các quyết định về bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam và trả tự do của Tòa án cũng như của Viện kiểm sát.

Xem nội dung VB
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố và xét xử được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
- Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố và xét xử được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
III- ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VÀ XÉT XỬ

Khi áp dụng các điều 62, 70, 141, 142, 152, 201 và 202 Bộ luật tố tụng hình sự cần lưu ý một số điểm sau đây:

1- Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kiểm sát viên phải kiểm tra về biện pháp ngăn chặn đối với bị can để đề xuất với Viện trưởng quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này.

Trong trường hợp bị can đang bị tạm giam mà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành cáo trạng thì Viện kiểm sát có thể ra lệnh tạm giam, nhưng không được quá 30 ngày.

2- Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Riệng việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam phải do Chánh án hoặc phó Chánh án quyết định.

3- Đối với các bị can đang bị tam giam mà Tòa án cấp sơ thẩm thấy cần tiếp tục tạm giam để xét xử, thì dù thời hạn tạm giam theo lệnh cũ còn hay hết, Tòa án vẫn phải ra lệnh tạm giam mới. Thời hạn tạm giam là 45 ngày (nếu vụ án do Tòa án cấp huyện thụ lý), 3 tháng (nếu vụ án do Tòa án cấp tỉnh thụ lý) tính từ ngày nhận hồ sơ. Trong trường hợp đặc biệt cần gia hạn tạm giam, thì trước khi hết hạn tạm giam, Tòa án cấp dưới phải báo cáo sớm để Chánh án Tòa án cấp trên kịp thời quyết định. Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp được gia hạn tạm giam một lần và không được quá một tháng.

Trường hợp đặc biệt nói trên là trường hợp thời hạn tạm giam bị cáo đã hết mà không thể cho bị cáo tại ngoại (vì bị cáo là phần tử nguy hiểm hoặc có căn cứ chứng tỏ bị cáo có thể trốn hoặc gây khó khăn cho việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) mà chưa thể xét xử được ngay vì có lý do chính đang (như có bị cáo trong cùng vụ án đang bị truy nã hoặc có việc đột xuất phải hoãn mở phiên tòa).

Đối với vụ án do Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao thụ lý để xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm thì thời hạn tạm giam cũng chỉ là 3 tháng. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm 1 tháng.

Vì chỉ trong trường hợp đặc biệt mới được gia hạn tạm giam bị cáo và chỉ được gia hạn tạm giam 1 lần, cho nên Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án trong thời gian đó (*).

4- Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, cho nên VKS hoặc Tòa án chỉ áp dụng đối với các bị can phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm một trong những tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội “tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 1 năm” là tội có mức cao nhất của khung hình phạt trên 1 năm tù. Nếu bị can phạm các tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ 1 năm tù trở xuống (như các tội quy định tại các điều 121, 123, 125, 126… BLHS) thì không được tạm giam họ. Đối với những điều luật có nhiều khoản thì những trường hợp bị can phạm tội quy định ở khoản có mức cao nhất của khung hình phạt từ 1 năm trở xuống (thí dụ: khoản 1 của điều 120; khoản 1 và 2 của điều 124 BLHS) cũng không được tạm giam họ.

Đối với các bị can được tại ngoại thì VKS chỉ tạm giam để truy tố và Tòa án chỉ tạm giam để xét xử trong những trường hợp thật cần thiết. Trái lại đối với các bị can đang bị tạm giam thì VKS hoặc Tòa án cần xem xét để nếu không còn cần thiết phải tiếp tục tạm giam nữa hoặc thời hạn tạm giam đã hết, thì phải ra lệnh trả tự do ngay hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang phải nuôi con dưới 12 tháng, là người già yếu, người đang bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng, thì không tạm giam, mà nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (như bắt phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú hoặc cho bảo lĩnh); chỉ trong trường hợp đặc biệt (như họ là phần tử nguy hiểm hoặc có thể trốn, hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) thì mới tạm giam họ (điều 70 Bộ luật tố tụng hình sự).

Đối với những trường hợp quy định tại điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử phải tuyên trong bản án là trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Những người được Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa thì được cấp ngay một bản trích lục bản án. Trại giam không được tiếp tục tạm giam họ.

5- Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm phạt tù giam với thời hạn tù dài hơn thời gian đã tạm giam, thì Tòa án phải tuyên trong bản án sơ thẩm là tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

6- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể quyết định bắt ngay bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án, nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục gây án, và quyết định này phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và được nêu rõ trong phần nhận định cũng như phần quyết định của bản án (khoản 2 điều 173, điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự).

7- Đối với bị cáo được tại ngoại thì Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên tình trạng của họ như khi hồ sơ được chuyển đến. Tuy nhiên, đối với những bị cáo đang bị giam mà khi chuẩn bị xét xử phúc thẩm có nhiều khả năng là họ bị oan hoặc không đến mức phải bị phạt tù, hoặc bị cáo cần được ra ngoài để chữa bệnh, sinh đẻ, thì Chánh án hoặc phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, thẩm phán Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao được phân công chủ tọa phiên tòa phúc thẩm có thể quyết định trả tự do hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để chở xét xử phúc thẩm.

8- Cơ quan công an thi hành các quyết định về bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam và trả tự do của Tòa án cũng như của Viện kiểm sát.

Xem nội dung VB
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố và xét xử được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
III- ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VÀ XÉT XỬ

Khi áp dụng các điều 62, 70, 141, 142, 152, 201 và 202 Bộ luật tố tụng hình sự cần lưu ý một số điểm sau đây:

1- Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kiểm sát viên phải kiểm tra về biện pháp ngăn chặn đối với bị can để đề xuất với Viện trưởng quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này.

Trong trường hợp bị can đang bị tạm giam mà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành cáo trạng thì Viện kiểm sát có thể ra lệnh tạm giam, nhưng không được quá 30 ngày.

2- Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Riệng việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam phải do Chánh án hoặc phó Chánh án quyết định.

3- Đối với các bị can đang bị tam giam mà Tòa án cấp sơ thẩm thấy cần tiếp tục tạm giam để xét xử, thì dù thời hạn tạm giam theo lệnh cũ còn hay hết, Tòa án vẫn phải ra lệnh tạm giam mới. Thời hạn tạm giam là 45 ngày (nếu vụ án do Tòa án cấp huyện thụ lý), 3 tháng (nếu vụ án do Tòa án cấp tỉnh thụ lý) tính từ ngày nhận hồ sơ. Trong trường hợp đặc biệt cần gia hạn tạm giam, thì trước khi hết hạn tạm giam, Tòa án cấp dưới phải báo cáo sớm để Chánh án Tòa án cấp trên kịp thời quyết định. Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp được gia hạn tạm giam một lần và không được quá một tháng.

Trường hợp đặc biệt nói trên là trường hợp thời hạn tạm giam bị cáo đã hết mà không thể cho bị cáo tại ngoại (vì bị cáo là phần tử nguy hiểm hoặc có căn cứ chứng tỏ bị cáo có thể trốn hoặc gây khó khăn cho việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) mà chưa thể xét xử được ngay vì có lý do chính đang (như có bị cáo trong cùng vụ án đang bị truy nã hoặc có việc đột xuất phải hoãn mở phiên tòa).

Đối với vụ án do Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao thụ lý để xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm thì thời hạn tạm giam cũng chỉ là 3 tháng. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm 1 tháng.

Vì chỉ trong trường hợp đặc biệt mới được gia hạn tạm giam bị cáo và chỉ được gia hạn tạm giam 1 lần, cho nên Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án trong thời gian đó (*).

4- Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, cho nên VKS hoặc Tòa án chỉ áp dụng đối với các bị can phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm một trong những tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội “tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 1 năm” là tội có mức cao nhất của khung hình phạt trên 1 năm tù. Nếu bị can phạm các tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ 1 năm tù trở xuống (như các tội quy định tại các điều 121, 123, 125, 126… BLHS) thì không được tạm giam họ. Đối với những điều luật có nhiều khoản thì những trường hợp bị can phạm tội quy định ở khoản có mức cao nhất của khung hình phạt từ 1 năm trở xuống (thí dụ: khoản 1 của điều 120; khoản 1 và 2 của điều 124 BLHS) cũng không được tạm giam họ.

Đối với các bị can được tại ngoại thì VKS chỉ tạm giam để truy tố và Tòa án chỉ tạm giam để xét xử trong những trường hợp thật cần thiết. Trái lại đối với các bị can đang bị tạm giam thì VKS hoặc Tòa án cần xem xét để nếu không còn cần thiết phải tiếp tục tạm giam nữa hoặc thời hạn tạm giam đã hết, thì phải ra lệnh trả tự do ngay hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang phải nuôi con dưới 12 tháng, là người già yếu, người đang bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng, thì không tạm giam, mà nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (như bắt phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú hoặc cho bảo lĩnh); chỉ trong trường hợp đặc biệt (như họ là phần tử nguy hiểm hoặc có thể trốn, hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) thì mới tạm giam họ (điều 70 Bộ luật tố tụng hình sự).

Đối với những trường hợp quy định tại điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử phải tuyên trong bản án là trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Những người được Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa thì được cấp ngay một bản trích lục bản án. Trại giam không được tiếp tục tạm giam họ.

5- Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm phạt tù giam với thời hạn tù dài hơn thời gian đã tạm giam, thì Tòa án phải tuyên trong bản án sơ thẩm là tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

6- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể quyết định bắt ngay bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án, nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục gây án, và quyết định này phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và được nêu rõ trong phần nhận định cũng như phần quyết định của bản án (khoản 2 điều 173, điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự).

7- Đối với bị cáo được tại ngoại thì Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên tình trạng của họ như khi hồ sơ được chuyển đến. Tuy nhiên, đối với những bị cáo đang bị giam mà khi chuẩn bị xét xử phúc thẩm có nhiều khả năng là họ bị oan hoặc không đến mức phải bị phạt tù, hoặc bị cáo cần được ra ngoài để chữa bệnh, sinh đẻ, thì Chánh án hoặc phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, thẩm phán Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao được phân công chủ tọa phiên tòa phúc thẩm có thể quyết định trả tự do hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để chở xét xử phúc thẩm.

8- Cơ quan công an thi hành các quyết định về bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam và trả tự do của Tòa án cũng như của Viện kiểm sát.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
III- ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VÀ XÉT XỬ

Khi áp dụng các điều 62, 70, 141, 142, 152, 201 và 202 Bộ luật tố tụng hình sự cần lưu ý một số điểm sau đây:

1- Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kiểm sát viên phải kiểm tra về biện pháp ngăn chặn đối với bị can để đề xuất với Viện trưởng quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này.

Trong trường hợp bị can đang bị tạm giam mà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành cáo trạng thì Viện kiểm sát có thể ra lệnh tạm giam, nhưng không được quá 30 ngày.

2- Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Riệng việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam phải do Chánh án hoặc phó Chánh án quyết định.

3- Đối với các bị can đang bị tam giam mà Tòa án cấp sơ thẩm thấy cần tiếp tục tạm giam để xét xử, thì dù thời hạn tạm giam theo lệnh cũ còn hay hết, Tòa án vẫn phải ra lệnh tạm giam mới. Thời hạn tạm giam là 45 ngày (nếu vụ án do Tòa án cấp huyện thụ lý), 3 tháng (nếu vụ án do Tòa án cấp tỉnh thụ lý) tính từ ngày nhận hồ sơ. Trong trường hợp đặc biệt cần gia hạn tạm giam, thì trước khi hết hạn tạm giam, Tòa án cấp dưới phải báo cáo sớm để Chánh án Tòa án cấp trên kịp thời quyết định. Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp được gia hạn tạm giam một lần và không được quá một tháng.

Trường hợp đặc biệt nói trên là trường hợp thời hạn tạm giam bị cáo đã hết mà không thể cho bị cáo tại ngoại (vì bị cáo là phần tử nguy hiểm hoặc có căn cứ chứng tỏ bị cáo có thể trốn hoặc gây khó khăn cho việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) mà chưa thể xét xử được ngay vì có lý do chính đang (như có bị cáo trong cùng vụ án đang bị truy nã hoặc có việc đột xuất phải hoãn mở phiên tòa).

Đối với vụ án do Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao thụ lý để xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm thì thời hạn tạm giam cũng chỉ là 3 tháng. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm 1 tháng.

Vì chỉ trong trường hợp đặc biệt mới được gia hạn tạm giam bị cáo và chỉ được gia hạn tạm giam 1 lần, cho nên Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án trong thời gian đó (*).

4- Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, cho nên VKS hoặc Tòa án chỉ áp dụng đối với các bị can phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm một trong những tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội “tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 1 năm” là tội có mức cao nhất của khung hình phạt trên 1 năm tù. Nếu bị can phạm các tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ 1 năm tù trở xuống (như các tội quy định tại các điều 121, 123, 125, 126… BLHS) thì không được tạm giam họ. Đối với những điều luật có nhiều khoản thì những trường hợp bị can phạm tội quy định ở khoản có mức cao nhất của khung hình phạt từ 1 năm trở xuống (thí dụ: khoản 1 của điều 120; khoản 1 và 2 của điều 124 BLHS) cũng không được tạm giam họ.

Đối với các bị can được tại ngoại thì VKS chỉ tạm giam để truy tố và Tòa án chỉ tạm giam để xét xử trong những trường hợp thật cần thiết. Trái lại đối với các bị can đang bị tạm giam thì VKS hoặc Tòa án cần xem xét để nếu không còn cần thiết phải tiếp tục tạm giam nữa hoặc thời hạn tạm giam đã hết, thì phải ra lệnh trả tự do ngay hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang phải nuôi con dưới 12 tháng, là người già yếu, người đang bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng, thì không tạm giam, mà nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (như bắt phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú hoặc cho bảo lĩnh); chỉ trong trường hợp đặc biệt (như họ là phần tử nguy hiểm hoặc có thể trốn, hoặc cản trở việc xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) thì mới tạm giam họ (điều 70 Bộ luật tố tụng hình sự).

Đối với những trường hợp quy định tại điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử phải tuyên trong bản án là trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Những người được Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa thì được cấp ngay một bản trích lục bản án. Trại giam không được tiếp tục tạm giam họ.

5- Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm phạt tù giam với thời hạn tù dài hơn thời gian đã tạm giam, thì Tòa án phải tuyên trong bản án sơ thẩm là tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

6- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể quyết định bắt ngay bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án, nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục gây án, và quyết định này phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và được nêu rõ trong phần nhận định cũng như phần quyết định của bản án (khoản 2 điều 173, điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự).

7- Đối với bị cáo được tại ngoại thì Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên tình trạng của họ như khi hồ sơ được chuyển đến. Tuy nhiên, đối với những bị cáo đang bị giam mà khi chuẩn bị xét xử phúc thẩm có nhiều khả năng là họ bị oan hoặc không đến mức phải bị phạt tù, hoặc bị cáo cần được ra ngoài để chữa bệnh, sinh đẻ, thì Chánh án hoặc phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, thẩm phán Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao được phân công chủ tọa phiên tòa phúc thẩm có thể quyết định trả tự do hoặc nếu cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để chở xét xử phúc thẩm.

8- Cơ quan công an thi hành các quyết định về bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam và trả tự do của Tòa án cũng như của Viện kiểm sát.

Xem nội dung VB
- Việc bắt giam bị cáo mà không có căn cứ cho thấy bị cáo có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục gây án được hướng dẫn bởi Khoản 25 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
25. Việc bắt giam bị cáo để đảm bảo thi hành án ngay sau khi tuyên án mà không có căn cứ cho thấy bị cáo có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục gây án thì có vi phạm Điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự không?

Theo Quy định tại Điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự, thì đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì Toà án sơ thẩm chỉ được bắt giam ngay bị cáo sau khi tuyên án trong trường hợp có căn cứ cho thấy bị cáo có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục gây án. Những căn cứ của việc bắt giam bị cáo phải được ghi trong bản án sơ thẩm; "Như vậy, nếu không có căn cứ cho thấy bị cáo có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục gây án, thì việc bắt giam bị cáo sau khi tuyên án là vi phạm nghiêm trọng Điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự, đó là việc bắt giam trái pháp luật cho dù mục đích của việc bắt giam là để đảm bảo thi hành án.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
Việc bắt giam bị cáo mà không có căn cứ cho thấy bị cáo có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục gây án được hướng dẫn bởi Khoản 25 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Điểm này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Mục IV Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
IV- TRUY NÃ, ÁP GIẢI BỊ CAN, BỊ CÁO VÀ BẢO VỆ PHIÊN TÒA

1- Truy nã bị can, bị cáo (điểm c khoản 3 điều 141, khoản 1, điều 162 Bộ luật tố tụng hình sự) Khi nhận được công văn yêu cầu truy nã bị can, bị cáo, cơ quan điều tra ra quyết định truy nã. Quyết định truy nã được thông báo theo quy định của điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và sao gửi cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án đã yêu cầu truy nã. Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu truy nã, cơ quan điều tra phải thông báo cho cơ quan đã yêu cầu truy nã biết kết quả.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Mục IV Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
- Điểm này được hướng dẫn bởi Điểm 1, Điểm 2 Mục IV Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
IV- TRUY NÃ, ÁP GIẢI BỊ CAN, BỊ CÁO VÀ BẢO VỆ PHIÊN TÒA

1- Truy nã bị can, bị cáo (điểm c khoản 3 điều 141, khoản 1, điều 162 Bộ luật tố tụng hình sự) Khi nhận được công văn yêu cầu truy nã bị can, bị cáo, cơ quan điều tra ra quyết định truy nã. Quyết định truy nã được thông báo theo quy định của điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và sao gửi cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án đã yêu cầu truy nã. Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu truy nã, cơ quan điều tra phải thông báo cho cơ quan đã yêu cầu truy nã biết kết quả.

2- Áp giải bị cáo đến phiên tòa (khoản 1 điều 162 Bộ luật tố tụng hình sự).

Bị cáo tại ngoại đã được giao giấy triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, thì thẩm phấn chủ tọa phiên tòa ra lệnh áp giải đến phiên tòa (trong ngày hoặc vào ngày khác) để xét xử. Việc vắng mặt tại phiên tòa được coi là lý do chính đáng nếu bị cáo gặp trở ngại mà không thể có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án (như ốm nặng đột xuất hoặc gặp tai nạn phải cấp cứu ở bệnh viện…). Lý do chính đáng phải được báo cho Tòa án biết trước khi khai mạc phiên tòa.

Quyết định áp giải được gửi cho Thủ trưởng cơ quan công an cùng cấp. Cơ quan công an áp giải bị cáo đến phiên tòa theo đúng thời gian và địa điểm ghi trong quyết định áp giải và bảo đảm bị cáo có mặt tại phiên tòa cho đến khi xét xử xong. Nếu hết giờ làm việc mà chưa xét xử xong thì Hội đồng xét xử có thể quyết định tạm giam bị cáo để buổi sau hoặc ngày hôm sau xét xử tiếp.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Điểm 1, Điểm 2 Mục IV Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 3 Mục IV Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)

Để áp dụng thống nhất các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về hiệu lực thi hành, thẩm quyền xét xử các tội phạm hình sự của các Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự khu vực, các biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, bị cáo và bảo vệ phiên tòa. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
...
IV- TRUY NÃ, ÁP GIẢI BỊ CAN, BỊ CÁO VÀ BẢO VỆ PHIÊN TÒA
...
3- Bảo vệ phiên tòa (điều 172 BLTTHS).

Tòa án gửi lịch phiên tòa cho Thủ trưởng cơ quan công an cùng cấp trước 7 ngày, nếu có phiên tòa xử lưu động thì phải báo trước ít nhất là 2 tuần lễ. Theo lịch phiên tòa của Tòa án, cơ quan công an cử cảnh sát nhân dân đến Tòa án để bảo vệ phiên tòa. Đối với những trường hợp gây rối trật tự xảy ra trong khu vực cơ quan Tòa án hoặc trong khu vực xử án, cảnh sát nhân dân có trách nhiệm giải quyết. Đối với người có hành động hành hung hoặc xúc phạm đến kiểm sát viên, thành viên của Hội đồng xét xử, người bào chữa hoặc người tham gia tố tụng khác thì cảnh sát nhân dân phải áp dụng ngay các biện pháp thích hợp. Nếu thuộc trường hợp phạm pháp quả tang thì cảnh sát nhân dân phải bắt ngay theo quy định tại điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 3 Mục IV Thông tư liên tịch 02-BNV-TANDTC-BTP/TTLT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/01/2004)
- Thủ tục giao nhận hồ sơ và tang vật giữa VKS và Tòa án trong giai đoạn này được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:

I. THỦ TỤC GIAO NHẬN HỒ SƠ VÀ TANG VẬT GIỮA VIỆN KIỂM SÁT VÀ TÒA ÁN

Ngày Tòa án nhận hồ sơ do Viện Kiểm sát chuyển sang là ngày bắt đầu tính thời hạn chuẩn bị xét xử của Tòa án. Thời hạn này đã được Bộ luật tố tụng hình sự quy định, cho nên, việc giao nhận hồ sơ cần được tiến hành nghiêm túc, tránh tình trạng phải chuyển qua, chuyển lại nhiều lần làm cho quá trình giải quyết vụ án bị kéo dài, vi phạm thời hạn luật định. Do đó:

1. Khi chuyển hồ sơ sang Tòa án, Viện kiểm sát cần kiểm tra lại hồ sơ và tang vật của vụ án, bảo đảm hồ sơ có đủ các tài liệu đã liệt kê, đủ và đúng tang vật của vụ án.

Bản kê tài liệu của Viện Kiểm sát được đánh số thứ tự tiếp theo số thứ tự các tài liệu của cơ quan điều tra.

2. Viện kiểm sát trực tiếp giao hồ sơ cho Tòa án cùng cấp. Trường hợp Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát cùng cấp điều tra bổ sung cũng phải giao trực tiếp.

Người nhận hồ sơ đối chiếu bản kê tài liệu với các tài liệu có trong hồ sơ, nếu có thì ký nhận, nếu không đủ thì chưa nhận.

3. Tang vật của vụ án được chuyển giao cùng với hồ sơ vụ án khi Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung thì không phải bàn giao lại tang vật, trừ trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu. Khi giao nhận tang vật phải lập biên bản. Biên bản có chữ ký của bên giao, bên nhận và được để trong hồ sơ.

4. Ngay sau khi nhận hồ sơ, Tòa án phải vào sổ thụ lý và đóng dấu (hoặc ghi) ngày nhận hồ sơ vào bìa hồ sơ (góc trên, bên trái).

Khi Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung, thì Tòa án xóa sổ thụ lý, Viện kiểm sát ghi việc Tòa án trả lại hồ sơ vào sổ thụ lý của mình. Khi nhận lại hồ sơ, Tòa án thu lý lại. Ngày chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và ngày thụ lý lại cũng được đóng dấu (hoặc ghi) vào bìa hồ sơ.

Các tài liệu của Tòa án được đánh số thứ tự tiếp theo số thứ tự các tài liệu của Viện kiểm sát. Các tài liệu của cấp phúc thẩm được đánh số thứ tự tiếp theo số thứ tự các tài liệu của cấp sơ thẩm. Không được thay đổi thứ tự trong hồ sơ vụ án.

5. Ngay sau khi nhận hồ sơ, thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải giải quyết việc áp dụng, hay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quyền hạn của mình, giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa.

Xem nội dung VB
- Vấn đề họp trù bị trong giai đoạn này này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
II. VẤN ĐỀ HỌP TRÙ BỊ

Bộ luật tố tụng hình sự không quy định thủ tục họp trù bị, cho nên, họp trù bị không phải là thủ tục tố tụng bắt buộc, mà chỉ là lề lối làm việc trong quan hệ phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát nhằm giúp nhau thực hiện tốt hơn những công việc thuộc chức năng của mỗi ngành. Do đó, bên nào thấy cần thì chủ động mời bên kia trao đổi những trường hợp cần trao đổi là:

- Khi Tòa án thấy cần trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung, đổi tội danh nặng hơn hoặc áp dụng khung hình phạt nặng hơn;

- Khi Tòa án thấy cần đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án;

- Khi cần nhập hoặc tách vụ án;

- Khi cần chuyển vụ án cho Tòa án khác giải quyết (kể cả chuyển lên, chuyển xuống) hoặc chuyển cho Tòa án cùng cấp);

- Khi chuẩn bị xét xử vụ án điểm hoặc vụ án phức tạp;

Các trường hợp cần thiết khác.

Thẩm phán chuẩn bị xét xử vụ án và kiểm sát viên sẽ tham gia phiên tòa trực tiếp trao đổi vói nhau. Trong trường hợp cần thiết thì cán bộ lãnh đạo của hai ngành cùng trao đổi. Tùy từng vụ án có thể mời thêm đại diện của cơ quan điều tra, giám định viên.

Sau khi trao đổi, dù nhất trí hay không nhất trí, mỗi bên vẫn tiến hành những công việc thuộc chức năng của mình. Thí dụ: Trường hợp Tòa án thấy cần trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung, qua trao đổi, Viện kiểm sát nhất trí thì Tòa án ra quyết định trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung. Trường hợp Viện kiểm sát không nhất trí nhận lại hồ sơ để điều tra bổ sung đã nói rõ lý do, nhưng Tòa án vẫn thấy cần phải được điều tra bổ sung thì Tòa án ra quyết định trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung. Trong quyết định phải nói rõ những vấn đề cần được điều tra bổ sung (theo Điều 154). Trong trường hợp này, Viện kiểm sát cùng cấp cần nghiên cứu, giải quyết yêu cầu của Tòa án. Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và báo cho Tòa án biết. Nếu Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu mà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, thì chuyển hồ sơ trở lại cho Tòa án, kèm theo văn bản nói rõ lý do không điều tra bổ sung được. Khi nhận lại hồ sơ, trong thời hạn 15 ngày, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Xem nội dung VB
Thủ tục giao nhận hồ sơ và tang vật giữa VKS và Tòa án trong giai đoạn này được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
Vấn đề họp trù bị trong giai đoạn này này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
III. XEM XÉT VIỆC RÚT TRUY TỐ (các Điều 156, 169, 195, 196)

1. Trước khi mở phiên tòa, nếu Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu rút một phần, thì Hội đồng xét xử chỉ xét xử phần không bị rút truy tố.

2. Theo các Điều 169, 195 và 196, thì tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, nếu kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố, Hội đồng xét xử vẫn xét xử toàn bộ vụ án và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận việc rút truy tố đó. Căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận được ghi trong bản án.

Nếu kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng (như người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự…) trình bày ý kiến về việc rút truy tố của Viện kiểm sát là có hay không có căn cứ.

Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội, thì Hội đồng xét xử tuyên án là bị cáo không phạm tội. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định là bị cáo có tội thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới. Tòa án xóa sổ thụ lý và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cấp trên (cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát cùng cấp). Qua nghiên cứu hồ sơ và kiến nghị của Tòa án, nếu Viện kiểm sát cấp trên thống nhất với việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án đã tạm đình chỉ vụ án đó biết. Nếu Viện kiểm sát cấp trên nhất trí với kiến nghị của Tòa án thì ra quyết định huỷ việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới và chuyển hồ sơ cho Tòa án đã tạm đình chỉ vụ án. Tòa án thụ lý lại và xét xử lại trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thu lý lại.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
III. XEM XÉT VIỆC RÚT TRUY TỐ (các Điều 156, 169, 195, 196)

1. Trước khi mở phiên tòa, nếu Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu rút một phần, thì Hội đồng xét xử chỉ xét xử phần không bị rút truy tố.

2. Theo các Điều 169, 195 và 196, thì tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, nếu kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố, Hội đồng xét xử vẫn xét xử toàn bộ vụ án và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận việc rút truy tố đó. Căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận được ghi trong bản án.

Nếu kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng (như người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự…) trình bày ý kiến về việc rút truy tố của Viện kiểm sát là có hay không có căn cứ.

Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội, thì Hội đồng xét xử tuyên án là bị cáo không phạm tội. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định là bị cáo có tội thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới. Tòa án xóa sổ thụ lý và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cấp trên (cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát cùng cấp). Qua nghiên cứu hồ sơ và kiến nghị của Tòa án, nếu Viện kiểm sát cấp trên thống nhất với việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án đã tạm đình chỉ vụ án đó biết. Nếu Viện kiểm sát cấp trên nhất trí với kiến nghị của Tòa án thì ra quyết định huỷ việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới và chuyển hồ sơ cho Tòa án đã tạm đình chỉ vụ án. Tòa án thụ lý lại và xét xử lại trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thu lý lại.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Công văn 328/NCPL năm 1993

2. Nếu tại phiên toà, sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên chỉ rút quyết định truy tố đối với một tội hoặc một số tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các tội khác hay Kiểm sát viên chỉ rút quyết định truy tố đối với một hoặc một số các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo hoặc các bị cáo còn lại thì đây là các trường hợp Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố. Vì vậy trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 169 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại điểm 2 mục III của Thông tư liên ngành nói trên thì: "Hội đồng xét xử vẫn xét xử toàn bộ vụ án và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận việc rút truy tố đó. Căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận được ghi trong bản án".

Trong trường hợp nếu Hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút quyết định truy tố của Kiểm sát viên mà Viện trưởng Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện Kiểm sát cấp trên cho rằng việc rút quyết định, truy tố của Kiểm sát viên là đúng, thì Viện trưởng Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện Kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
Khoản này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Công văn 328/NCPL năm 1993
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
III. XEM XÉT VIỆC RÚT TRUY TỐ (các Điều 156, 169, 195, 196)

1. Trước khi mở phiên tòa, nếu Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu rút một phần, thì Hội đồng xét xử chỉ xét xử phần không bị rút truy tố.

2. Theo các Điều 169, 195 và 196, thì tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, nếu kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố, Hội đồng xét xử vẫn xét xử toàn bộ vụ án và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận việc rút truy tố đó. Căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận được ghi trong bản án.

Nếu kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng (như người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự…) trình bày ý kiến về việc rút truy tố của Viện kiểm sát là có hay không có căn cứ.

Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội, thì Hội đồng xét xử tuyên án là bị cáo không phạm tội. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định là bị cáo có tội thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới. Tòa án xóa sổ thụ lý và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cấp trên (cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát cùng cấp). Qua nghiên cứu hồ sơ và kiến nghị của Tòa án, nếu Viện kiểm sát cấp trên thống nhất với việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án đã tạm đình chỉ vụ án đó biết. Nếu Viện kiểm sát cấp trên nhất trí với kiến nghị của Tòa án thì ra quyết định huỷ việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới và chuyển hồ sơ cho Tòa án đã tạm đình chỉ vụ án. Tòa án thụ lý lại và xét xử lại trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thu lý lại.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Công văn 328/NCPL năm 1993

Trong thời gian vừa qua, Toà án nhân dân tối cao đã nhận được nhiều công văn của các Toà án nhân dân và toà án quân sự các cấp yêu cầu hướng dẫn thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về vấn đề kiểm sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố tại phiên toà, cụ thể là trong trường hợp nào được coi là Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố và trong trường hợp nào được coi là kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố. Toà án nhân dân tối cao đã có công văn số 294/NCPL ngày 31-5-1993 gửi Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi ý kiến về vấn đề nói trên. Căn cứ vào sự thống nhất ý kiến với ý kiến của Toà án nhân dân tối cao tại công văn số 869/VKH ngày 14-6-1993 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về vấn đề kiểm sát viên rút quyết định truy tố tại phiên toà như sau:

1. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự, thì quyết định truy tố của Viện Kiểm sát chính là bản cáo trạng mà kiểm sát viên đọc tại phiên toà; do đó, chỉ khi nào Kiểm sát viên rút toàn bộ bản cáo trạng mới được coi là rút toàn bộ quyết định truy tố. Trong trường hợp này, theo quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại điểm 2 mục III Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự", thì: "... trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng (như người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự...) trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát có hay không có căn cứ. Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội, thì Hội đồng xét xử tuyên án bị cáo không phạm tội. Ngược lại nếu có căn cứ xác định là bị cáo có tội thì Hội đồng xét xử quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát cấp dưới. Toà án xoá sổ thụ lý và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát cấp trên (cấp trên trực tiếp của Viện Kiểm sát cùng cấp). Qua nghiên cứu hồ sơ và kiến nghị của Toà án nếu Viện Kiểm sát cấp trên thống nhất với việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án đã tạm đình chỉ vụ án đó biết. Nếu Viện Kiểm sát cấp trên nhất trí với kiến nghị của Toà án thì ra quyết định huỷ việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát cấp dưới và chuyển hồ sơ cho toà án đã tạm đình chỉ vụ án. Toà án thụ lý lại và xét xử trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý lại".

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Công văn 328/NCPL năm 1993
- Khoản này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
III. XEM XÉT VIỆC RÚT TRUY TỐ (các Điều 156, 169, 195, 196)

1. Trước khi mở phiên tòa, nếu Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu rút một phần, thì Hội đồng xét xử chỉ xét xử phần không bị rút truy tố.

2. Theo các Điều 169, 195 và 196, thì tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, nếu kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố, Hội đồng xét xử vẫn xét xử toàn bộ vụ án và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận việc rút truy tố đó. Căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận được ghi trong bản án.

Nếu kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng (như người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự…) trình bày ý kiến về việc rút truy tố của Viện kiểm sát là có hay không có căn cứ.

Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội, thì Hội đồng xét xử tuyên án là bị cáo không phạm tội. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định là bị cáo có tội thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới. Tòa án xóa sổ thụ lý và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cấp trên (cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát cùng cấp). Qua nghiên cứu hồ sơ và kiến nghị của Tòa án, nếu Viện kiểm sát cấp trên thống nhất với việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án đã tạm đình chỉ vụ án đó biết. Nếu Viện kiểm sát cấp trên nhất trí với kiến nghị của Tòa án thì ra quyết định huỷ việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới và chuyển hồ sơ cho Tòa án đã tạm đình chỉ vụ án. Tòa án thụ lý lại và xét xử lại trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thu lý lại.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Công văn 328/NCPL năm 1993

Trong thời gian vừa qua, Toà án nhân dân tối cao đã nhận được nhiều công văn của các Toà án nhân dân và toà án quân sự các cấp yêu cầu hướng dẫn thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về vấn đề kiểm sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố tại phiên toà, cụ thể là trong trường hợp nào được coi là Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố và trong trường hợp nào được coi là kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố. Toà án nhân dân tối cao đã có công văn số 294/NCPL ngày 31-5-1993 gửi Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi ý kiến về vấn đề nói trên. Căn cứ vào sự thống nhất ý kiến với ý kiến của Toà án nhân dân tối cao tại công văn số 869/VKH ngày 14-6-1993 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về vấn đề kiểm sát viên rút quyết định truy tố tại phiên toà như sau:

1. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự, thì quyết định truy tố của Viện Kiểm sát chính là bản cáo trạng mà kiểm sát viên đọc tại phiên toà; do đó, chỉ khi nào Kiểm sát viên rút toàn bộ bản cáo trạng mới được coi là rút toàn bộ quyết định truy tố. Trong trường hợp này, theo quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại điểm 2 mục III Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự", thì: "... trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng (như người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự...) trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát có hay không có căn cứ. Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội, thì Hội đồng xét xử tuyên án bị cáo không phạm tội. Ngược lại nếu có căn cứ xác định là bị cáo có tội thì Hội đồng xét xử quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát cấp dưới. Toà án xoá sổ thụ lý và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát cấp trên (cấp trên trực tiếp của Viện Kiểm sát cùng cấp). Qua nghiên cứu hồ sơ và kiến nghị của Toà án nếu Viện Kiểm sát cấp trên thống nhất với việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án đã tạm đình chỉ vụ án đó biết. Nếu Viện Kiểm sát cấp trên nhất trí với kiến nghị của Toà án thì ra quyết định huỷ việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát cấp dưới và chuyển hồ sơ cho toà án đã tạm đình chỉ vụ án. Toà án thụ lý lại và xét xử trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý lại".

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
Khoản này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Công văn 328/NCPL năm 1993
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
IV. SỰ CÓ MẶT CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA (Điều 164)

Theo Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự, thì kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia tất cả các phiên tòa của Tòa án cùng cấp.

Vì vậy, khi giao hồ sơ vụ án cho Tòa án, Viện kiểm sát cần thông báo về họ tên của kiểm sát viên sẽ tham gia phiên tòa để Tòa án ghi vào quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nếu sau đó Viện kiểm sát cần thay đổi kiểm sát viên thì báo lại cho Tòa án để Tòa án thông báo cho những người tham gia tố tụng biết.

Để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát chủ động trong việc bố trí kiểm sát viên tham gia tất cả các phiên tòa, hàng tháng các Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm gửi lịch phiên tòa cho Viện kiểm sát cùng cấp và thực hiện đúng lịch đó. Trường hợp Tòa án cần phải thay đổi lịch phiên tòa thì trao đổi trước với Viện kiểm sát cùng cấp.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục V Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
V. GIỚI HẠN CỦA VIỆC XÉT XỬ (Điều 170)

Theo Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự "Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử". Do đó, các Tòa án không xét xử những người và hành vi chưa được Viện kiểm sát truy tố và không xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Trước khi mở phiên tòa, nếu Tòa án thấy cần phải truy tố thêm người, thêm tội hoặc cần xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn, thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung và thay đổi cáo trạng. Trường hợp qua xét xử tại phiên tòa mới phát hiện được tội phạm mới hoặc người phạm tội mới thì Tòa án ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Trong trường hợp Tòa án đề nghị Viện kiểm sát đổi tội danh nặng hơn và đã trao đổi mà Viện kiểm sát không nhất trí, thì cả hai bên đều phải báo cáo ngay với cấp trên của mình. Thủ trưởng hai cơ quan cấp trên cần trao đổi ngay để nếu thống nhất ý kiến thì hướng dẫn cấp dưới thi hành, nếu vẫn không thống nhất ý kiến thì Tòa án cấp dưới phải xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, không được tuyên là "bị cáo không phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố".

Nếu xét thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, hoặc áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, thì Tòa án không phải báo trước cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng.

Xem nội dung VB
- Giới hạn xét xử của Tòa án trong trường hợp Kiểm sát viên đề nghị tội danh nhẹ hơn tội danh VKS truy tố được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Công văn 24/1999/KHXX

Tại Hội nghị công tác ngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dân tối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đề nghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối cao giải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
4. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội cướp tài sản của công dân và Toà án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo về tội cướp tài sản của công dân. Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và đề nghị kết tội bị cáo về tội danh nhẹ hơn là gây rối trật trật tự công cộng. Khi nghị án Hội đồng xét xử thấy có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội cướp tài sản của công dân, thì Hội đồng xét xử có quyền kết án bị cáo về tội cướp tài sản của công dân không?

Theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện Kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đồng thời, theo tinh thần của quy định tại Điều 169, Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong trường hợp Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội danh nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án. Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự thì khi nghị án, chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; do đó, trong trường hợp được nêu trên đây khi nghị án Hội đồng xét xử thấy có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội cướp tài sản của công dân, thì Hội đồng xét xử có quyền không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và tuyên bố bị cáo phạm tội cướp tài sản của công dân. Điều đó là hoàn toàn đúng với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, cần lưu ý là trong trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố tại phiên toà, thì Hội đồng xét xử phải thực hiện đúng các quy định tại khoản 2 Điều 195, khoản 2 Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự và hướng dẫn tại Mục III Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự" (Xem cuốn các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1990; tr.136).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục V Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
Giới hạn xét xử của Tòa án trong trường hợp Kiểm sát viên đề nghị tội danh nhẹ hơn tội danh VKS truy tố được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Công văn 24/1999/KHXX
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
VI. THỦ TỤC PHÚC THẨM

1. Về quyền kháng cáo (Điều 205)

a) Điều 205 Bộ luật tố tụng hình sự không nói về quyền kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành nêin nhưng theo tinh thần Điều 275 thì đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành nêin cũng có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của bị cáo. Đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên là bố mẹ hoặc người đỡ đầu của họ.

b) Người được Tòa án tuyên là vô tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ vô tội. Đây là trường hợp người được tuyên là vô tội kháng cáo về các nhận định của Tòa án. Thí dụ: họ không thực hiện hành vi trái pháp luật, nhưng Tòa án lại nhận định họ có thực hiện hành vi trái pháp luật nhưng chưa đến mức cấu thành tội phạm (hoặc không cần truy cứu trách nhiệm hình sự). Trong trường hợp này, họ có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại phần nhận định của bản án sơ thẩm cho đúng với sự thật.

c) Điều 39 quy định người bị hại có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định của Tòa án về phần bồi thường cũng như về hình phạt. Theo quy định này, người bị hại có thể kháng cáo yêu cầu Tòa án tăng hoặc giảm hình phạt cũng như tăng hoặc giảm mức bồi thường thiệt hại.

d) Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận nếu có lý do chính đáng (Điều 209).

Lý do chính đáng là lý do khiến người có quyền kháng cáo không thể thực hiện được quyền hạn của mình trong thời hạn luật định (như bị bệnh hiểm nghèo, bị tai nạn phải đi cấp cứu ngay hoặc bị những cản trở khác, nên không thể kháng cáo được trong thời hạn kháng cáo). Trong những trường hợp này, người kháng cáo quá hạn phải nói rõ lý do kháng cáo quá hạn và ngay sau khi hết cản trở phải làm đơn kháng cáo ngay. Tòa án đã xử sơ thẩm xác minh về lý do kháng cáo quá hạn đó. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn. Viện kiểm sát cùng cấp được thông báo để có thể tham gia việc xét đơn kháng cáo quá hạn đó.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
VI. THỦ TỤC PHÚC THẨM
...
2. Bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị (Điều 212)

Sau khi có kháng cáo, kháng nghị cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, người đã kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung hoặc thay đổi kháng cáo, kháng nghị, nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo.

Người đã kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã kháng nghị về tội nào thì có quyền bổ sung hoặc thay đổi kháng cáo hoặc kháng nghị của mình về tội đó. Còn đối với những tội chưa có kháng cáo, kháng nghị thì không được bổ sung hoặc thay đổi.

Làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là làm cho bị cáo có thể bị Tòa án cấp phúc thẩm phạt nặng hơn, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn hoặc tăng mức bồi thường so với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó, người đã kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã kháng nghị theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo so với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, thì không được bổ sung hoặc thay đổi theo hướng tăng nặng cho bị cáo. Nếu đã kháng cáo hoặc kháng nghị theo hướng tăng nặng hình phạt thì không được bổ sung thêm hình phạt khác hoặc thay bằng loại hình phạt khác nặng hơn.

Xem nội dung VB
- Trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên Tòa được hướng dẫn bởi Khoản 23 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
23. Trong phần thứ tư của Bộ luật tố tụng hình sự "Xét lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm" chỉ quy định trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị tại phiên toà thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ (khoản 2 điều 212 Bộ luật tố tụng hình sự ): vậy trường hợp trước khi mở phiên toà người kháng cáo rút tòan bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị, thì Toà án cấp phúc thẩm xử lý ra sao và căn cứ vào điều luật nào để giải quyết ?

Vướng mắc nêu trên là thiếu sót khi xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự, cần được bổ sung; tuy nhiên theo tinh thần quy định tại Điều 212 Bộ luật tố tụng hình sự, thì nếu như trước khi mở phiên toà, người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị, thì việc xét xử phúc thẩm vụ án cũng phải được đình chỉ. Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định cụ thể ai là người có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm vụ án trước khi mở phiên toà phúc thẩm, nhưng theo tinh thần tương tự quy định tại điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự, thì việc ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trước khi mở phiên toà phúc thẩm là do Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà thực hiện.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
Trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên Tòa được hướng dẫn bởi Khoản 23 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Thời gian nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm được hướng dẫn bởi Điểm 3 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
VI. THỦ TỤC PHÚC THẨM
...
3. Thời gian nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm

Để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm có tài liệu tham gia phiên tòa, khi gửi hồ sơ kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp sơ thẩm cần gửi thêm một bản sao bản án cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm (bản này không đánh số theo số thứ tự các tài liệu trong hồ sơ).

Để cả hai bên đều được chủ động thời gian nghiên cứu hồ sơ, trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Tòa án cấp phúc thẩm chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát nghiên cứu trước. Thời gian nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cấp tỉnh là 10 ngày, của Viện phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 20 ngày. Viện kiểm sát phải hoàn toàn trả hồ sơ cho Tòa án trong thời hạn đó.

Xem nội dung VB
- Trường hợp bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị đã chết được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, khi bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị đã chết, thì việc giải quyết vụ án trong thời gian qua không được thống nhất. Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, khi bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây:

I. VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG

II. VỀ NỘI DUNG ĐỀ NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI TRANH LUẬN VÀ NỘI DUNG QUYẾT ĐỊNH TRONG BẢN ÁN PHÚC THẨM

III. VỀ HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA THÔNG TƯ

Xem nội dung VB
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 3 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2. Bổ sung một số điều mới như sau:
...
3- "Điều 215a. Việc Toà án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn.

Sau khi nhận hồ sơ vụ án, toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn.

Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định tại Điều 215 của Bộ luật này.

Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên toà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Toà án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên toà."

Xem nội dung VB
Thời gian nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm được hướng dẫn bởi Điểm 3 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
Trường hợp bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị đã chết được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC
Chương này được bổ sung bởi Khoản 3 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 4 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
VI. THỦ TỤC PHÚC THẨM
...
4. Phạm vi xét xử phúc thẩm (Điều 214)

Tòa án cấp phúc thẩm xem xét những phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị. Còn những phần không có kháng cáo, kháng nghị thì chỉ xem xét trong trường hợp cần thiết.

Trường hợp cần thiết là trường hợp ở phần không bị kháng cáo hoặc kháng nghị có điểm cần được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 4 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 5 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
VI. THỦ TỤC PHÚC THẨM
...
5. Sửa bản án sơ thẩm (Điều 221)

a) Nếu chỉ có kháng cáo, kháng nghị theo hướng có lợi cho bị cáo, thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có thể y án sơ thẩm/ hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho họ (khoản 1 Điều 221). Tòa án cấp phúc thẩm không được hủy bản án sơ thẩm để giao vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Nếu thấy rõ ràng là bản án sơ thẩm phạt quá nhẹ thì sau khi xử y án sơ thẩm, cần báo cáo và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp giám đốc thẩm để xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

b) Đối với các bị cáo có kháng cáo, kháng nghị, dù họ có được giảm hình phạt hoặc được áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn hay không, nếu có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn cho bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.

c) Chỉ những bị cáo bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo hướng tăng nặng hình phạt, tăng mức bồi thường, áp dụng hình phạt bổ sung hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn, thì Tòa án cấp phúc thẩm mới có quyền xét xử theo hướng đó đối với họ.

Khi xét xử phúc thẩm bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực theo hướng tăng hình phạt, cần chú ý là:

- Nếu chỉ có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt, thì Tòa án cấp phúc thẩm tỉnh hoặc quân khu chỉ được tăng trong khung hình phạt, mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng, không được chuyển sang khung hình phạt khác nặng hơn.

- Nếu kháng cáo hoặc kháng nghị yêu cầu áp dụng khung hình phạt khác nặng hơn hoặc tội danh khác nặng hơn, những vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực, thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền áp dụng khung hình phạt hoặc tội danh nặng hơn đó để xét xử bị cáo.

- Nhưng nếu khung hình phạt nặng hơn hoặc tội danh nặng hơn đó thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu, thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực rồi chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát làm lại cáo trạng và Tòa án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm lại cho đúng thẩm quyền.

d) Đối với các khoản bồi thường dân sự trong bản án hình sự, nếu không có kháng cáo, kháng nghị, thì Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 5 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 6 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
VI. THỦ TỤC PHÚC THẨM
...
6. Giải quyết kháng cáo, kháng nghị các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm (Điều 225).

Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với các quyết định sơ thẩm nói ở Điều 213 bằng một hội đồng gồm 3 thẩm phán, không phải mở phiên tòa. Thời hạn giải quyết là 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng cáo, kháng nghị. Tòa án cần thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết thời gian và địa điểm họp để Viện kiểm sát có thể tham gia.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 6 Mục VI Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục VII Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988

Để thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây:
...
VII. TẠM ĐÌNH CHỈ THI HÀNH BẢN ÁN HOẶC QUYẾT ĐỊNH KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM HOẶC TÁI THẨM

Theo tinh thần của Điều 245 Bộ luật tố tụng hình sự thì những người đã kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đó. Quy định này có nghĩa là đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật đang được thi hành, nếu thấy trong thời gian chờ xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm việc tiếp tục thi hành bản án hoặc quyết định đó có thể gây thiệt hại cho người phải thi hành, thì người đã kháng nghị có quyền quyết định tạm đình chỉ việc thi hành đó.

Theo quy định của Luật thì người "đã kháng nghị" có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành án, do đó, chỉ có thể quyết định việc tạm đình chỉ thi hành án ngay trong bản kháng nghị hoặc sau khi đã kháng nghị, chứ không được ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án trước khi kháng nghị.

Đối với các trường hợp đang chấp hành hình phạt tù thì chỉ nên tạm đình chỉ thi hành án khi đã có kháng nghị theo các hướng sau đây:

- Đình chỉ vụ án.

- Tuyên bố không phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

- Cho hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục VII Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988
- Điều này được hướng dẫn bởi Nghị định 149-HĐBT năm 1992 (VB hết hiệu lực: 22/11/1998)

Căn cứ điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
...
Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Nghị định này "Quy định về chế độ tạm giữ, tạm giam" đối với những người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự.

Điều 2. - Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Những văn bản trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.

Điều 3. - Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành Nghị định này.

Điều 4. - Bộ trưởng các Bộ: Nội vụ, Quốc phòng và các Bộ có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
...
QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ TẠM GIỮ, TẠM GIAM

Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. - Việc giam, giữ người bị tạm giữ, tạm giam phải đúng pháp luật, đúng chế độ; phải quản chế nghiêm, đồng thời bảo đảm tính nhân đạo để phục vụ yêu cầu điều tra xử lý các vụ án.

Điều 2. - Những người bị tạm giữ, tạm giam phải được tạm giữ, tạm giam tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam theo quy định của Bộ Nội vụ.

Chương 3: TỔ CHỨC NHÀ TẠM GIỮ , TRAỊ TẠM GIAM

Điều 3. - Mỗi huyện, quận và cấp hành chính tương đương được tổ chức một nhà tạm giữ. Nhà tạm giữ ở cấp huyện, quận có một số buồng để tạm giam những người có lệnh tạm giam thuộc thẩm quyền điều tra, xét xử của cấp huyện, quận. Nhà tạm giữ cấp huyện, quận do công an huyện, quận quản lý.
...
Điều 4. - Việc tổ chức các nhà tạm giữ ở Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và cấp tương đương, trại tạm giam thuộc các cấp Quân khu, Quân chủng, Binh chủng và cấp tương đương; trại tạm giam ở Cục điều tra hình sự Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định theo quy định chung của Bộ Nội vụ.

Điều 5. - Nhà tạm giữ do Trưởng nhà tạm giữ phụ trách, trại tạm giam do Trưởng trại tạm giam phụ trách và có một số Phó trưởng trại giúp việc, Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam có trách nhiệm quản lý nhà tạm giữ, trại tạm giam và phải chấp hành đầy đủ những quy định của pháp luật về chế độ tạm giữ, tạm giam.

Điều 6. - Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra quyết định thành lập hoặc giải thể các nhà tạm giữ, trại tạm giam và quy định mẫu thiết kế diện tích theo số lượng người bị tạm giữ, tạm giam cho từng nhà tạm giữ, trại tạm giam. Việc xây dựng các nhà tạm giữ, trại tạm giam phải đảm bảo yêu cầu an toàn, chắc chắn, có nhiều loại buồng để phục vụ cho việc tạm giữ, tạm giam riêng từng người, từng loại người.
...
Điều 7. - Kinh phí phục vụ cho việc cải tạo sửa chữa và xây dựng mới nhà tạm giữ, trại tạm giam; mua sắm các phương tiện giam, giữ, ăn ở, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam do Bộ Tài chính cấp theo dự trù hàng năm của Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng.

Chương 3: TRÁCH NHIỆM, QUYỀN HẠN CUẢ CÁN BỘ QUẢN LÝ NHÀ TẠM GIỮ , TRẠI TẠM GIAM

Điều 8. - Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam chỉ được nhận tạm giữ, tạm giam hoặc cho xuất trại những người bị tạm giữ, tạm giam khi có lệnh hoặc quyết định của người có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.

Điều 9. - Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam có trách nhiệm theo dõi chặt chẽ và kịp thời, thông báo bằng văn bản trước khi hết hạn tạm giữ, tạm giam cho những cơ quan có thẩm quyền đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam:
...
Điều 10. - Không được giữ người bị tạm giữ chung với người bị tạm giam trong cùng một buồng; không được đưa người bị tạm giữ theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính vào giữ chung một buồng với người bị tạm giữ, tạm giam.

Điều 11. - Phải tạm giữ, tạm giam tại buồng riêng đối với những loại người phạm tội sau:
...
Điều 12. - Số phạm nhân thành án được để lại không quá 15% so với tổng số người bị tạm giam quy định cho trại tạm giam đó để phục vụ cho việc nấu ăn, làm vệ sinh, sửa chữa trại. Chỉ được để lại những phạm nhân thành án, không phạm các tội cướp, giết người, không phải là loại lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ hung hãn, tái phạm và phải là những phạm nhân có mức án phạt tù từ 5 năm trở xuống.

Điều 13. - Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam khi nhận được đơn, thư khiếu nại, tố cáo của người bị tạm giữ, tạm giam phải giải quyết theo thẩm quyền hoặc chuyển ngay cho cơ quan có trách nhiệm để giải quyết.

Điều 14. - Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam khi thi hành kỷ luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam phải ra quyết định bằng văn bản, ghi rõ lý do và hình thức kỷ luật. Văn bản này phải lưu vào hồ sơ của người đó để theo dõi.

Điều 15. - Trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết, Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam phải mời bác sĩ pháp y và Kiểm sát viên đến khám nghiệm và lập biên bản theo thủ tục tố tụng hình sự, đồng thời phải thông báo cho cơ quan ra lệnh tạm giữ hoặc tạm giam và thân nhân người bị tạm giữ, tạm giam biết.

Chương 4: CHẾ ĐỘ SINH HOẠT, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM

Điều 16. - Người bị tạm giữ, tạm giam được hưởng mức ăn theo định lượng hàng tháng do Bộ Nội vụ cùng Bộ Tài chính quy định bảo đảm mức sống cần thiết cho họ.

Điều 17. - Người bị tạm giữ, tạm giam trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam được sử dụng quần áo, chăn màn của mình mang theo, nếu không có thì nhà tạm giữ, trại tạm giam sẽ cho mượn.

Điều 18. - Người bị tạm giữ, tạm giam được bố trí chỗ nằm bằng phản gỗ hoặc bệ đổ xi-măng, có chiếu, diện tích bình quân chỗ nằm của một người tối thiểu là 2m2.

Điều 19. - Người bị tạm giữ, tạm giam khi ốm đau được khám và chữa bệnh tại bệnh xá hoặc trạm xá của trại, nếu ốm đau nặng được điều trị tại các bệnh viện của Nhà nước.
...
Điều 20. - Người bị tạm giữ, tạm giam được quyền khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ, tạm giam trái pháp luật hoặc không thực hiện đúng chế độ tạm giữ, tạm giam.

Điều 21. - Người bị tạm giữ, tạm giam được nhận thư và gửi thư cho gia đình, được nhận đồ tiếp tế, quần áo, chăn màn, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cần thiết (trừ rượu, bia, thuốc phiện, hàng xa xỉ phẩm, sách báo đồi truỵ, phản động) của gia đình, nếu việc gửi, nhận đó không gây trở ngại cho việc điều tra, xét xử án. Cán bộ quản lý nhà tạm giữ, trại tạm giam, phối hợp với cơ quan điều tra giải quyết theo nội quy của trại.
...
Điều 22. - Nghiêm cấm người bị tạm giữ, tạm giam đem những vật cấm như vũ khí, những vật bằng kim loại... vào buồng tạm giữ, tạm giam. Tài sản, tiền bạc của người bị tạm giữ, tạm giam phải ký gửi ở bộ phận lưu ký của nhà tạm giữ, trại tạm giam và được phép sử dụng theo nội quy của trại, khi ra trại được thanh toán và trả lại những thứ còn lại. Nếu trại để mất hoặc hư hỏng thì phải bồi thường.

Điều 23. - Người bị tạm giữ, tạm giam được nghe đài truyền thanh và đọc báo của Nhà nước.

Điều 24. - Người bị tạm giữ, tạm giam chấp hành tốt nội quy, kỷ luật của nhà tạm giữ, trại tạm giam và có thành tích xuất sắc sẽ được đề nghị xem xét khi quyết định hình thức xử lý, xét xử.

Điều 25. - Người bị tạm giữ, tạm giam nếu phạm tội mới, ngoài hình thức kỷ luật của trại còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
...
Điều 26. - Chế độ đối với người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam sẽ được quy định riêng.

Xem nội dung VB
- Quy chế về tạm giữ, tạm giam được hướng dẫn bởi Nghị định 89/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2018)

Căn cứ Bộ Luật Tố tụng hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
...
Điều 1. Nay ban hành kèm theo Nghị định này "Quy chế về tạm giữ, tạm giam".

Điều 2. Nghị định này thay thế Nghị định số 149/HĐBT ngày 05 tháng 5 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng, có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.

Điều 3. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng phối hợp với các cơ quan hữu quan hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thi hành Nghị định này.

Điều 4. Bộ trưởng các Bộ: Công an, Quốc phòng, Tài chính, Y tế và Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
...
QUY CHẾ VỀ TẠM GIỮ, TẠM GIAM

Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Tạm giữ, tạm giam là những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Toà án áp dụng nhằm buộc những người có Lệnh tạm giữ hoặc Lệnh tạm giao cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phạt tù hoặc án tử hình.

Điều 2.
...
Điều 3.
...
Điều 4. Trại tạm giam là nơi giam, giữ những người thuộc diện quy định tại khoản 2 Điều 2 Quy chế này, những người bị kết án tù hoặc tử hình đang chờ thi hành án. Trong Trại tạm giam có một số buồng để tạm giữ người được quy định tại khoản 1 Điều 2 Quy chế này và những người bị bắt theo Lệnh truy nã.
...
Điều 5. Nhà tạm giữ, Trại tạm giam chỉ tiếp nhận giam, giữ những người đã có Lệnh tạm giữ, Lệnh tạm giam hoặc Lệnh truy nã. Người bị tạm giữ và người bị tạm giam không được giam, giữ chung trong cùng một buồng. Việc tạm giữ, tạm giam phải theo đúng quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm của những người bị tạm giữ, tạm giam.

Chương 2: TỔ CHỨC NHÀ TẠM GIỮ, TRẠI TẠM GIAM

MỤC A: TỔ CHỨC NHÀ TẠM GIỮ

Điều 6.
...
Điều 7.
...
Điều 8. Trưởng Nhà tạm giữ, Phó trưởng Nhà tạm giữ, cán bộ làm công tác quản giáo, y tế, hồ sơ, tổng hợp, trinh sát, hậu cần và chiến sĩ vũ trang canh gác bảo vệ phải có phẩm chất chính trị tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật, đã được đào tạo về chuyên môn và hiểu biết pháp luật.

Điều 9. Nhà tạm giữ, Buồng tạm giữ ở Đồn biên phòng được thiết kế, xây dựng kiên cố, có khoá cửa, đủ ánh sáng, bảo đảm sức khoẻ của người bị tạm giam, giữ, vệ sinh môi trường, an toàn phòng cháy, chữa cháy, phù hợp với đặc điểm khí hậu của từng địa phương và yêu cầu an toàn của công tác quản lý giam, giữ. Tiêu chuẩn cụ thể của Nhà tạm giữ, Buồng tạm giữ ở Đồn biên phòng do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định.

MỤC B: TỔ CHỨC TRẠI TẠM GIAM

Điều 10.
...
Điều 11.
...
Điều 12. Giám thị, Phó giám thị, Quản giáo, nhân viên, kỹ thuật viên, Sĩ quan, Hạ sĩ quan, chiến sĩ vũ trang canh gác bảo vệ Trại tạm giam phải có phẩm chất chính trị tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật, hiểu biết pháp luật và có nghiệp vụ chuyên ngành.
...
Điều 13. Trại tạm giam được thiết kế, xây dựng kiên cố, có đủ ánh sáng bảo đảm vệ sinh môi trường và sức khoẻ cho người bị tạm giam, tạm giữ, an toàn phòng cháy, chữa cháy, phù hợp với đặc điểm khí hậu của từng địa phương và yêu cầu an toàn của công tác quản lý giam, giữ. Tiêu chuẩn cụ thể của Trại tạm giam do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

Điều 14. Trại tạm giam được tổ chức bệnh xá để khám và chữa bệnh cho người đang bị giam, giữ. Trại tạm giam thuộc Công an thành phố Hà Nội và Công an thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức bệnh viện để khám, chữa bệnh cho người đang bị giam, giữ ở các Trại tạm giam, Nhà tạm giữ theo quy định của Bộ Công an và Bộ Y tế.

Chương 3: CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ TẠM GIỮ, TẠM GIAM

Điều 15.
...
Điều 16. Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam thì Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam phải thực hiện các việc sau:
...
Điều 17. Người bị tạm giữ, tạm giam chỉ được đưa vào buồng giam, giữ những đồ dùng cần thiết cho cá nhân theo quy định của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Tiền và các tài sản khác của họ mang theo phải gửi lưu ký tại nơi quy định của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam hoặc uỷ quyền cho thân nhân họ quản lý. Những vật không thể bảo quản được trong thời hạn giam, giữ và những vật thuộc danh mục cấm mang vào buồng giam, giữ nếu phải huỷ bỏ thì Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam phải ra quyết định huỷ bỏ bằng văn bản. Khi huỷ bỏ phải có sự chứng kiến của người bị tạm giữ, tạm giam và phải lập biên bản về việc huỷ bỏ. Nếu họ được trả tự do hoặc chuyển nơi giam, giữ khác thì phải trả lại tiền hoặc các tài sản khác đã gửi lưu ký. Trường hợp Nhà tạm giữ, Trại tạm giam làm hư hỏng hoặc mất mát tiền hoặc tài sản gửi lưu ký của người bị tạm giữ, tạm giam thì phải bồi thường cho họ.

Điều 18.
...
Điều 19.
...
Điều 20.
...
Điều 21. Việc trích xuất được thực hiện một trong những trường hợp sau:
...
Điều 22.
...
Điều 23. Trại tạm giam phải tổ chức khu vực để giam những người có án tử hình. Trong trường hợp cần thiết, người có án tử hình có thể bị cùm chân 24h/24h. Giám thị Trại tạm giam được áp dụng các biện pháp kỹ thuật và nghiệp vụ cần thiết để ngăn ngừa người có án tử hình bỏ trốn, tự sát hoặc có các hành vi nguy hiểm khác.

Điều 24.
...
Điều 25.
...
Chương 4: CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM

Điều 26.
...
Điều 27. Nhà tạm giữ, Trại tạm giam được tổ chức một bếp ăn, có đủ dụng cụ cần thiết. Nhà tạm giữ, Trại tạm giam phải quản lý chặt chẽ các tài sản đó nhằm đảm bảo an toàn, tiết kiệm. Việc tổ chức phục vụ ăn, uống đủ tiêu chuẩn định lượng và đảm bảo vệ sinh theo quy định thống nhất của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

Điều 28. Người bị tạm giữ, tạm giam bị ốm đau, bệnh tật, thương tích được cán bộ y tế của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam khám và điều trị.
...
Điều 29. Nhà tạm giữ, Trại tạm giam được trang bị hệ thống truyền thanh. Trung bình 20 người bị tạm giữ, tạm giam được cấp một số báo Nhân dân hoặc báo địa phương. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam tổ chức cho người bị tạm giữ, tạm giam nghe Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh hoặc truyền thanh địa phương, đọc báo Nhân dân hoặc báo địa phương. Nếu có điều kiện thì tổ chức cho họ xem một số chương trình truyền hình Trung ương và địa phương.
...
Điều 30. Người bị tạm giữ, tạm giam chỉ được gửi và nhận thư khi được cơ quan đạng thụ lý vụ án cho phép. Thư phải để mở và qua sự kiểm tra của Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam.

Điều 31.
...
Điều 32.
...
Điều 33.
...
Điều 34. Chế độ tạm giữ, tạm giam đối với người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam được áp dụng theo Quy chế này, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

Chương 5: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 35. Kinh phí phục vụ cho việc quản lý, cải tạo, sửa chữa, xây dựng Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, mua sắm các phương tiện phục vụ giam giữ và chi phí ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam, chi phí cho việc tổ chức chôn cất người bị tạm giữ, tạm giam chết do ngân sách Nhà nước cấp theo dự trù hàng năm của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng. Bộ Tài chính chủ trì cùng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng phối hợp hướng dẫn thực hiện quy định này.

Điều 36.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Nghị định 149-HĐBT năm 1992 (VB hết hiệu lực: 22/11/1998)
Quy chế về tạm giữ, tạm giam được hướng dẫn bởi Nghị định 89/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2018)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 18 Nghị định 117-CP (VB hết hiệu lực: 27/06/1997)

Căn cứ Bộ Luật tố tụng hình sự ngày 26 tháng 8 năm 1988;
...
Điều 18.

Án phí hình sự bao gồm án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí hình sự phúc thẩm.

Mức án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí hình sự phúc thẩm là 50.000 đồng.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 70-CP

Căn cứ vào Bộ Luật tố tụng hình sự ngày 26 tháng 8 năm 1988;
...
Điều 3.- Án phí hình sự bao gồm án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí hình sự phúc thẩm.

Mức án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí hình sự phúc thẩm là 50.000 đồng.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 18 Nghị định 117-CP (VB hết hiệu lực: 27/06/1997)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 70-CP
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 19 và Điều 20 Nghị định 117-CP (VB hết hiệu lực: 27/06/1997)

Căn cứ Bộ Luật tố tụng hình sự ngày 26 tháng 8 năm 1988;
...
Điều 19.

Án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm được quy định như sau:

1- Người bị kết án phải chịu án phí sơ thẩm theo mức quy định tại Điều 18 của Nghị định này.

2- Trong trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nếu Toà án tuyên bố bị cáo không phạm tội, thì người bị hại đã khởi kiện phải nộp án phí theo mức quy định tại Điều 18 của Nghị định này.

3- Đối với phần dân sự về bồi thường thiệt hai trong các vụ án hình sự thì người phải bồi thường phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này, trừ trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 10 của Nghị định này.

Điều 20.

Án phí hình sự phúc thẩm được quy định như sau:

1- Bị cáo kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm, nếu Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình sự của bản án, quyết định sơ thẩm đối với bị cáo kháng cáo.

2- Người bị hại kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại và Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội.

3- Viện Kiểm sát kháng nghị thì không phải chịu án phí phúc thẩm.

4- Đối với phần dân sự về bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự thì người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 9 của Nghị định này, trừ trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 10 của Nghị định này.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 và Điều 5 Nghị định 70-CP

Căn cứ vào Bộ Luật tố tụng hình sự ngày 26 tháng 8 năm 1988;
...
Điều 4.- Án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự sơ thẩm đồng thời là chung thẩm được quy định như sau:

1. Người bị kết án phải chịu án phí sơ thẩm theo mức quy định tại Điều 3 của Nghị định này.

2. Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nếu Toà án tuyên bố bị cáo không phạm tội, thì người bị hại đã khởi kiện phải nộp án phí theo mức quy định tại Điều 3 của Nghị định này.

3. Đối với phần dân sự về bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự thì người phải bồi thường phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 7 và Điều 11 của Nghị định này, trừ trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 13 của Nghị định này.

Điều 5.- Án phí hình sự phúc thẩm được quy định như sau:

1. Bị cáo kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm, nếu Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình sự của bản án, quyết định sơ thẩm đối với bị cáo kháng cáo.

2. Người bị hại kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại và Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội.

3. Người kháng cáo rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên toà phúc thẩm hoặc tại phiên toà phúc thẩm, không phải chịu án phí phúc thẩm.

4. Viện kiểm sát kháng nghị không phải chịu án phí phúc thẩm.

5. Đối với phần dân sự về bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự thì người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 8 và Điều 12 của Nghị định này, trừ trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 13 của Nghị định này.

Xem nội dung VB
- Trường hợp xét xử lại phần dân sự mà có người nộp tạm ứng án phí có người không nộp được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục II Công văn 24/1999/KHXX

Tại Hội nghị công tác ngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dân tối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đề nghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối cao giải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
5. Trong một vụ án hình sự khi xét xử phúc thẩm (hay giám đốc thẩm), Toà án cấp phúc thẩm (hay cấp giám đốc thẩm) đã quyết định huỷ phần dân sự và giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại đối với phần dân sự, thì thủ tục thế nào? Nếu trong vụ án đó có ba người phải nộp tiền tạm ứng án phí mà chỉ có một người nộp tiền tạm ứng án phí còn lại hai người khác không nộp, thì toà án có giải quyết luôn tất cả đối với yêu cầu của cả ba người hay không?

Vấn đề này cần phân biệt như sau:

a- Trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm (hay Toà án cấp giám đốc thẩm) quyết định huỷ các quyết định về phần dân sự trong bản án hình sự và giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại vụ án về phần dân sự theo thủ tục chung, thì Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử lại vụ án theo thủ tục tố tụng tố tụng hình sự, mặc dù chỉ xét xử về phần dân sự. Trong trường hợp này, tuy các đương sự trong vụ án hình sự không nộp tiền tạm ứng án phí dân sự, nhưng Toà án vẫn tiến hành giải quyết phần dân sự của vụ án hình sự.

b- Trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm (hay Toà án cấp giám đốc thẩm) quyết định huỷ các quyết định về phần dân sự để giải quyết lại trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu, thì việc giải quyết phần dân sự khi có yêu cầu theo thủ tục chung về tố tụng dân sự. Trong trường hợp này nếu chỉ có một người nộp tiền tạm ứng án phí dân sự, thì cần phân biệt như sau:

- Nếu cả ba người đều có yêu cầu Toà án giải quyết phần dân sự cho họ, mà các yêu cầu của ba người này có liên quan với nhau (ví dụ: cả ba người có yêu cầu đòi bồi thường chiếc ô tô là tài sản của chung của họ bị chiếm đoạt) thì dù chỉ có một người nộp tiền tạm ứng án phí dân sự, Toà án vẫn thụ lý để giải quyết trong cùng một vụ án dân sự các yêu cầu của cả ba người.

- Nếu cả ba người đều có yêu cầu Toà án giải quyết phần dân sự cho họ, nhưng các yêu cầu của ba người này hoàn toàn độc lập với nhau (ví dụ: người thứ nhất yêu cầu bồi thường chiếc xe đạp, người thứ hai yêu cầu đòi bồi thường chiếc máy khâu và người thứ ba yêu cầu đòi bồi thường chiếc xe máy), thì chỉ có người nào nộp tiền tạm ứng án phí dân sự theo yêu cầu của mình, Toà án mới thụ lý để giải quyết theo thủ tục chung.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 19 và Điều 20 Nghị định 117-CP (VB hết hiệu lực: 27/06/1997)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 và Điều 5 Nghị định 70-CP
Trường hợp xét xử lại phần dân sự mà có người nộp tạm ứng án phí có người không nộp được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục II Công văn 24/1999/KHXX
- Việc áp dụng biểu mẫu thi hành bản án hình sự được hướng dẫn bởi Công văn 34/KHXX năm 1997

Để thực hiện đúng các quy định của Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, Toà án nhân dân tối cao gửi đến Toà án các cấp hai biểu mẫu "Quyết định thi hành bản án hình sự" và hai biểu mẫu "Quyết định thi hành quyết định hình sự giám đốc thẩm" để thay thế biểu mẫu "Quyết định thi hành án phạt tù" đối với người bị kết án đang bị tạm giam (mẫu số 1 THA) và biểu mẫu "Quyết định thi hành án phạt tù" đối với người bị kết án đang tại ngoại (mẫu số 2 THA). Từ nay các Toà án không áp dụng hai biểu mẫu "Quyết định thi hành án phạt tù" đối với người bị kết án đang bị tạm giam (mẫu số 1 THA) và "Quyết định thi hành án phạt tù" đối với người bị kết án đang tại ngoại (mẫu số 2 THA) trong tập biểu mẫu do Toà án nhân dân tối cao ban hành trước đây và cho đến nay đang được áp dụng.

Biểu mẫu kèm theo
...

Xem nội dung VB
- Việc giải quyết các quyết định thi hành án đối với bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị trong vụ án có nhiều bị cáo mà Tòa phúc thẩm đã giảm nhẹ hình phạt cho tất cả bị cáo được hướng dẫn bởi Khoản 18 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
18. Trường hợp trong một vụ án có nhiều bị cáo, sau khi xét xử sơ thẩm chỉ có một bị cáo kháng cáo, các bị cáo khác không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị thì bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, được thi hành và Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó ra quyết định thi hành án. Khi xét xử phúc thẩm Toà án cấp phúc thẩm đã giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo. Vậy trong trường hợp này, việc giải quyết đối với các quyết định thi hành án đối với các bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị sẽ như thế nào?

Trong trường hợp trên đây thì không phải giải quyết gì đối với quyết định thi hành bản án sơ thẩm đối với các bị cáo không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị (người bị kết án). Chỉ có sau khi tuyên án, Toà án cấp phúc thẩm cần gửi ngay bản sao bản án phúc thẩm cho cơ quan thi hành án và người bị kết án để thi hành. Trong trường hợp bị cáo bị phạt tù và đang chấp hành hình phạt tù mà Toà án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và hình phạt này bằng hoặc ngắn hơn thời hạn họ đã chấp hành hình phạt tù thì Toà án cấp phúc thẩm cần tuyên bố trong bản án là trả tự do ngay cho bị cáo, nếu họ không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 138/2003/KHXX năm 2003

1. Về việc thi hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo

Theo quy định tại khoản 2 Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự, thì: "Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định… phạt tù nhưng cho hưởng án treo… thì bản án… của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị". Quy định này cần được hiểu là trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định xử phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo thì Tòa án phải căn cứ vào khoản 2 Điều 226 và khoản 4 Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác mặc dù bản án sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Việc thi hành ngay bản án hoặc quyết định của Tòa án theo quy định này cần được hiểu là thi hành ngay quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu họ không bị tạm giam về một tội khác, còn việc ra quyết định thi hành bản án cũng như việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo phải được tiến hành theo quy định tại khoản 3 Điều 226, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại Điều 7 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30-10-2000 của Chính phủ "Quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo".

2. Về việc cấp sổ theo dõi người bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo

Căn cứ các quy định tại khoản 3 Điều 226, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại Nghị định số 61/2000/NĐ-CP (đã viện dẫn ở trên) thì khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải ra quyết định thi hành án và cấp sổ theo dõi, bản sao bản án cho người bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo để hộ thi hành, còn thủ tục thi hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đã được hướng dẫn cụ thể tại Điều 7 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP nêu trên. Nếu trên thực tế những Tòa án nào không thực hiện việc cấp sổ theo dõi cho người bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo để họ thi hành là không đúng với quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành.

Xem nội dung VB
Việc áp dụng biểu mẫu thi hành bản án hình sự được hướng dẫn bởi Công văn 34/KHXX năm 1997
Việc giải quyết các quyết định thi hành án đối với bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị trong vụ án có nhiều bị cáo mà Tòa phúc thẩm đã giảm nhẹ hình phạt cho tất cả bị cáo được hướng dẫn bởi Khoản 18 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 138/2003/KHXX năm 2003
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
2. Khoản 2 Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự quy định "Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận lại hồ sơ, Thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử". Vậy trường hợp sau khi điều tra bổ sung Viện kiểm sát đã sửa lại cáo trạng thay đổi tội danh hoặc truy tố thêm người phạm tội thì thời hạn Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử là bao nhiêu ngày? Trong thời hạn bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ vụ án Toà án phải mở phiên toà?

Một trong những trường hợp để Toà án ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung là: "Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác" (điểm b khoản 1 Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự). Đồng thời, theo quy định tại đoạn cuối khoản 2 Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự thì: "Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận lại hồ sơ, thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử". Như vậy, theo các quy định này, thì sau khi điều tra bổ sung cho dù Viện kiểm sát, đã sửa lại cáo trạng, thay đổi tội danh hoặc truy tố thêm người phạm tội thì thời hạn Thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vẫn là 15 ngày, kể từ ngày nhận lại hồ sơ vụ án. Theo quy định tại đoạn 3 và đoạn cuối khoản 2 Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn 30 ngày (nếu có lý do chính đáng thì trong thời hạn 45 ngày), kể từ ngày nhận lại hồ sơ vụ án Toà án phải mở phiên toà.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Trường hợp kiểm sát viên đã tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm mà bản án bị hủy và xét xử sơ thẩm lại được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
4. Đối với kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) đã tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm và bản án đó bị huỷ để xét xử sơ thẩm lại. Khi xét xử sơ thẩm lại thì người này có được tiếp tục tiến hành tố tụng là Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) không?

Theo quy định tại Điều 31 và Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự, thì Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) phải từ chối tiến hành tố tụng nếu có một trong những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 31 (hoặc Điều 33). Trong khoản 1 Điều 31 (hoặc Điều 33) không có quy định trường hợp Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) phải từ chối tiến hành tố tụng nếu đã tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án). Do đó, khi bản án sơ thẩm bị huỷ dể xét xử sơ thẩm lại, thì Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) vẫn được tiến hành tố tụng với tư cách là Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toàn án) khi xét xử sơ thẩm lại, nếu không có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Xem nội dung VB
Trường hợp kiểm sát viên đã tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm mà bản án bị hủy và xét xử sơ thẩm lại được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Trường hợp thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm mà bản án đó bị hủy và xét xử sơ thẩm lại được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
4. Đối với kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) đã tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm và bản án đó bị huỷ để xét xử sơ thẩm lại. Khi xét xử sơ thẩm lại thì người này có được tiếp tục tiến hành tố tụng là Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) không?

Theo quy định tại Điều 31 và Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự, thì Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) phải từ chối tiến hành tố tụng nếu có một trong những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 31 (hoặc Điều 33). Trong khoản 1 Điều 31 (hoặc Điều 33) không có quy định trường hợp Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) phải từ chối tiến hành tố tụng nếu đã tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án). Do đó, khi bản án sơ thẩm bị huỷ dể xét xử sơ thẩm lại, thì Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toà án) vẫn được tiến hành tố tụng với tư cách là Kiểm sát viên (hoặc Thư ký toàn án) khi xét xử sơ thẩm lại, nếu không có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Xem nội dung VB
Trường hợp thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm mà bản án đó bị hủy và xét xử sơ thẩm lại được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Việc phiên dịch đối với người câm, điếc không được học ở trường khuyết tật và không biết chữ được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
5. Tại khoản 3 Điều 45 Bộ luật tố tụng hình sự quy định các trường hợp người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi. Trong trường hợp bị cáo, người bị hại là những người bị bệnh câm, điếc mà không học ở các trường khuyết tật, không biết chữ chỉ có thân nhân là vợ chồng, cha mẹ, anh chị em ruột mới hiểu được những cử chỉ của họ thì việc phiên dịch được thực hiện như thế nào?

Theo tinh thần quy định tại khoản 3 Điều 45 Bộ luật tố tụng hình sự, thì cha mẹ, vợ chồng, anh em ruột của bị cáo, của người bị hại không được tham gia tố tụng với tư cách là người phiên dịch; do đó, Toà án phải tìm hoặc đề nghị gia đình của bị cáo hoặc của người bị hại tìm cho họ một người hiểu được những ký hiệu của người câm, điếc để có thể tham gia phiênn toà với tư cách là người phiên dịch đáp ứng được những quy định tại Điều 45 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xem nội dung VB
Việc phiên dịch đối với người câm, điếc không được học ở trường khuyết tật và không biết chữ được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
6. Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về trách nhiệm của người hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh "cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh phải chịu trách nhiệm về vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan". Vậy trách nhiệm ở đây là như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự, thì khi nhận bảo lĩnh cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án. Trong trường hợp cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết, như có lỗi trong việc để cho bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội; không dùng các biện pháp mà mình có thể làm được để bị can, bị cáo có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, thì tuỳ vào mức độ cụ thể phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Việc lấy lời khai của những người có liên quan trước khi khởi tố vụ án được hướng dẫn bởi Khoản 7 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
7. Việc lấy lời khai của những người có liên quan trước khi khởi tố vụ án để làm cơ sở cho việc ra quyết định khởi tố vụ án, nhưng nếu sau khi khởi tố vụ án mà không lấy lại lời khai như vậy có vi phạm tố tụng không?

Một vụ án hình sự bắt đầu bằng quyết định khởi tố vụ án. Theo tinh thần quy định tại Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự, thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ quy định tại Điều 83 và Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự. Việc lấy lời khai của những người có liên quan trước khi khởi tố vụ án, thì theo quy định tại Điều 84, Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự những việc làm đó thuộc tố giác, tin báo về tội phạm và nhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm mà thôi. Chỉ có sau khi có quyết định khởi tố vụ án mới xác định được ai là người bị hại, ai là người làm chứng, ai là nguyên đơn dân sự, ai là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan... và chỉ khi đó họ mới trở thành người tham gia tố tụng, mới có quyền và nghĩa vụ tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; Do đó, nếu sau khi có quyết định khởi tố vụ án mà không lấy lại lời khai của họ là vi phạm tố tụng.

Xem nội dung VB
Việc lấy lời khai của những người có liên quan trước khi khởi tố vụ án được hướng dẫn bởi Khoản 7 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Trường hợp Luật sư chỉ định vắng mặt tại phiên tòa được hướng dẫn bởi Khoản 8 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
8. Nếu Luật sư được chỉ định vắng mặt mà tại phiên toà bị cáo là người chưa thành niên từ chối yêu cầu nhờ luật sư bào chữa và người đại diện hợp pháp của bị cáo này yêu cầu được tự mình bào chữa cho bị cáo, thì phiên toà có tiếp tục được tiến hành hay không? và cần phải làm những thủ tục gì?

Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự, thì "bị can, bị cáo (là người chưa thành niên) và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền thay đổi hoặc từ chối người bào chữa". Vấn đề này đã được hướng dẫn tại công văn số 32/TK ngày 2-3-1989 của Toà án nhân dân tối cao và tại điểm đ mục B Báo cáo tổng kết 5 tháng đầu năm 1989 của Toà án nhân dân tối cao. Đối với trường hợp Luật sư chỉ định theo pháp luật vắng mặt tại phiên toà mà tại phiên toà bị cáo là người chưa thành niên từ chối người bào chữa cho mình, thì Toà án lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của bị cáo và biên bản này phải có chữ ký của bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo lưu vào hồ sơ vụ án và tiến hành phiên toà xét xử bình thường. Nếu người đại diện hợp pháp của bị cáo yêu cầu được tự mình bào chữa cho bị cáo, thì Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu đó và được ghi vào biên bản phiên toà. Điều đó là hoàn toàn đúng với quy định tại Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong các trường hợp này phiên toà vẫn được tiến hành tiếp tục, nếu không phải hoãn phiên toà vì những lý do khác.

Xem nội dung VB
Trường hợp Luật sư chỉ định vắng mặt tại phiên tòa được hướng dẫn bởi Khoản 8 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Trường hợp người bị hại không yêu cầu khởi tố về tội quy định tại Khoản 1 Điều 109. Sau khi Tòa trả hồ sơ, VKS truy tố theo Khoản 2 Điều 109 được hướng dẫn bởi Khoản 11 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
11. Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Viện kiểm sát truy tố bị can về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 109 Bộ luật hình sự khi bị hại không có yêu cầu khởi tố vụ án. Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung sau đó Viện kiểm sát truy tố theo khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự, vậy Toà án có thụ lý lại để xét xử không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự thì: "Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 109; đoạn 1, khoản 1 Điều 112; đoạn 1 khoản 1 Điều 113; khoản 1 Điều 116; khoản 1 Điều 117 và Điều 126 Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại". Do đó, trường hợp cơ quan điều tra khởi tố và Viện kiểm sát truy tố bị can về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 109 Bộ luật hình sự, khi người bị hại không có yêu cầu khởi tố vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự thì một trong những trường hợp Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung là: "Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" (điểm c khoản 1). Nếu sau khi điều tra bổ sung mà Viện kiểm sát truy tố bị can theo khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự, thì Toà án thụ lý lại để xét xử theo thủ tục chung.

Xem nội dung VB
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
5. Khoản 1 Điều 88 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131, 171 Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại."

Xem nội dung VB
Trường hợp người bị hại không yêu cầu khởi tố về tội quy định tại Khoản 1 Điều 109. Sau khi Tòa trả hồ sơ, VKS truy tố theo Khoản 2 Điều 109 được hướng dẫn bởi Khoản 11 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
13. Đối với trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại (Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự), nếu lúc đầu người bị hại có yêu cầu, các cơ quan điều tra, truy tố đã hoàn tất hồ sơ và đã truy tố ra trước Toà án, nhưng khi Toà án đã thụ lý hồ sơ vụ án và trong thời hạn chuẩn bị xét xử, thì người bị hại lại rút yêu cầu; Vậy Toà án phải giải quyết như thế nào?

Khoản 2 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp cần thiết, tuy người bị hại rút yêu cầu, Viện kiểm sát hoặc Toà án vẫn có thể tiến hành tố tụng đối với vụ án". Như vậy, về nguyên tắc chung nếu trước ngày mở phiên toà mà người bị hại rút yêu cầu, thì Toà án phải ra quyết định đình chỉ vụ án. Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng trong trường hợp cần thiết.

Để đánh giá thế nào là "trường hợp cần thiết", thì phải tuỳ thuộc vào từng vụ án cụ thể, tuỳ thuộc vào yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng thời kỳ, ở từng địa phương...

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Căn cứ phục hồi tố tụng khi căn cứ tạm đình chỉ không còn được hướng dẫn bởi Khoản 15 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
15. Việc Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, sau khi căn cứ tạm đình chỉ không còn, thì Toà án căn cứ vào Điều nào của Bộ luật tố tụng hình sự để ra quyết định phục hồi tố tụng?

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự, thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; cụ thể là:

a) Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y;

b) Khi không biết bị can đang ở đâu (bị can bỏ trốn). Trong trường hợp này phải yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can.

Do đó, nếu Toà án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án trong trường hợp thuộc điểm a, thì khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn, Toà án áp dụng khoản 2 Điều 286 Bộ luật tố tụng hình sự để ra quyết định phục hồi tố tụng đã bị tạm đình chỉ. Nếu Toà án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án trong trường hợp thuộc điểm b mà trong thời hạn một tháng đã bắt được bị can hay bị can đầu thú, thì Toà án áp dụng Điều 151 và Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định đưa vụ án ra xét xử; Nếu việc truy nã không có kết quả, thì Toà án áp dụng điểm a khoản 2 Điểm 162 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo.

Xem nội dung VB
Căn cứ phục hồi tố tụng khi căn cứ tạm đình chỉ không còn được hướng dẫn bởi Khoản 15 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Việc hủy án trong trường hợp Tòa sơ thẩm tuyên vô tội nhưng Tòa phúc thẩm có đủ căn cứ kết án bị cáo phạm tội được hướng dẫn bởi Khoản 22 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
22. Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội, Viện kiểm sát cho rằng bị cáo phạm tội và kháng nghị yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội và áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Toà án cấp phúc thẩm thấy có căn cứ để sửa án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo phạm tội. Vậy Toà án cấp phúc thẩm có được sửa án sơ thẩm không? Nếu được sửa án sơ thẩm thì căn cứ vào điều luật nào của Bộ luật tố tụng hình sự?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 211 Bộ luật tố tụng hình sự, thì Toà án cấp phúc thẩm chỉ có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại; do đó trong trường hợp toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội, nhưng khi xét xử phúc thẩm do Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu, thì mặc dù có đầy đủ căn cứ kết án bị cáo phạm tội. Toà án cấp phúc thẩm cũng không được sửa án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội. Nếu không thuộc trường hợp huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định tại khoản 1 điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự, thì Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm và gửi kiến nghị cùng hồ sơ vụ án cho Toà án cấp giám đốc thẩm xem xét theo thẩm quyền.

Xem nội dung VB
- Điều này được bổ sung bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
4- Điều 222 về huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại được bổ sung khoản 4 như sau:

"4. Trong trường hợp huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Toà án cấp phúc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi cơ quan điều tra hoặc Toà án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày huỷ án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho cơ quan điều tra hoặc Toà án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung."

Xem nội dung VB
Việc hủy án trong trường hợp Tòa sơ thẩm tuyên vô tội nhưng Tòa phúc thẩm có đủ căn cứ kết án bị cáo phạm tội được hướng dẫn bởi Khoản 22 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
Điều này được bổ sung bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 24 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
24. Việc giao toàn văn bản sao bản án quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng hình sự thì ngoài bị cáo còn được gửi cho những người nào?

Theo Quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng hình sự , thì Toà án phải giao bản sao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa gửi bản sao bản án cho những người bị xử vắng mặt. Bản sao bản án còn phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn hơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo, nếu xử vắng mặt của bị cáo. Đối với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ nếu có yêu cầu thì Toà án cấp trích lục bản án hoặc bản sao bản án cho họ. Ngoài ra, trong Điều 4 Pháp lệnh thi hành án dân sự còn quy định đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo thủ tục thi hành án dân sự, thì Toà án chuyển giao bản sao bản án, quyết định tronh thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án cùng cấp nơi Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án đối với bản án, quyết định về trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa, phạt tiền, tịch thu tài sản và án phí, thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Toà án phải chuyển giao bản sao bản án, quyết định, bản sao biên bản kê biên, tạm giữ tài sản kèm theo tang vật cho cơ quan thi hành án cùng cấp nơi Toà án đã xét xử sơ thẩm. Các đối tượng kể trên (trừ Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án dân sự ) nếu đã được cấp trích lục bản án, bản sao bản án nay xin cấp thêm bản sao trích lục bản án, bản sao bản án, thì thực hiện theo Quy định tại Điều 32 Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ qui định về án phí, lệ phí Toà án. (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng, năm 1998; trang 452).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 24 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Việc chuyển hồ sơ sau khi điều tra bổ sung, hiệu lực của lệnh tạm giam sau khi điều tra bổ sung được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1. Trường hợp Toà án quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Sau khi điều tra bổ sung xong Viện kiểm sát chuyển hồ sơ cho Toà án, thì Toà án giải quyết như thế nào? Nếu lệnh tạm giam của Toà án, Viện kiểm sát trước đây vẫn còn hiệu lực, thì Toà án có phải ra lệnh tạm giam mới nữa không? Nếu ra lệnh tạm giam mới thì thời gian là bao lâu?

Vấn đề này đã được hướng dẫn tại các điểm 4 và 5 mục I Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự"; cụ thể là:

"Khi Toà án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung, thì Toà án xoá sổ thụ lý, Viện kiểm sát ghi việc Toà trả hồ sơ vào sổ thụ lý của mình. Khi nhận lại hồ sơ, Toà án thụ lý lại. Ngày chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và ngày thụ lý lại cũng được đánh dấu (hoặc ghi) vào bìa hồ sơ.

...

Ngay sau khi nhận hồ sơ, Thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải giải quyết việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn theo quyền hạn của mình..." (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1990; trang 135).

Như vậy, theo hướng dẫn trên đây thì cho dù lệnh tạm giam của Toà án, Viện kiểm sát trước đó vẫn còn hiệu lực, Toà án cũng phải ra lệnh tạm giam mới (Nếu xét thấy cần thiết). Căn cứ vào các quy định tại các đoạn 3 và 4 khoản 2 Điều 151, Điều 152 thì thời hạn tạm giam là 30 ngày, trong trường hợp có lý do chính đáng thì 45 ngày. Nếu đến ngày mở phiên toà mà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì toà án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên toà.

Xem nội dung VB
Việc chuyển hồ sơ sau khi điều tra bổ sung, hiệu lực của lệnh tạm giam sau khi điều tra bổ sung được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Thời hạn xét xử trong trường hợp bị cáo bỏ trốn trong thời hạn chuẩn bị xét xử được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
3. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử, bị cáo bỏ trốn, Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án. Sau đó 7 năm thì mới bắt được bị cáo và vụ án được thụ lý lại, vậy thời hạn chuẩn bị xét xử đối với trường hợp này là bao lâu?

Theo hướng dẫn tại điểm 2 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 7-1-1995 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, "Hướng dẫn thực hiện một số quy định về truy nã bị can, bị cáo trong giai đoạn truy tố và xét xử", thì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà bị can bỏ trốn Toà án yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can và vẫn tiến hành các công việc theo thủ tục chung. Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự mà việc truy nã bị can vẫn chưa có kết quả, thì Toà án áp dụng Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm đình chỉ vụ án. Nếu hết thời hạn 1 tháng, kể từ ngày có công văn yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can bỏ trốn mà việc truy nã vẫn chưa có kết quả, thì Toà án phải ra ngay quyết định đưa vụ án ra xét xử và Toà án xét xử vắng mặt bị cáo bỏ trốn đó theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 162 Bộ luật tố tụng hình sự (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; năm 1995; trang 136).

Đối với trường hợp cụ thể nêu ra ở đây đáng lẽ sau khi Thông tư liên ngành có hiệu lực, Toà án cần phải tiếp tục giải quyết vụ án theo hướng dẫn trong Thông tư liên ngành. Tuy nhiên, nếu trước đây khi bị can bỏ trốn, Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, đã yêu cầu cơ quan điều tra truy nã và sau 7 năm mới bắt được bị can thì Toà án tiếp tục giải quyết vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử còn lại (chứ không phải thụ lý lại vụ án). Nếu xét thấy cần thiết thì có thể coi là vụ án phức tạp và Chánh án Toà án có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 30 ngày (đoạn 2 khoản 2 Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự).

Xem nội dung VB
Thời hạn xét xử trong trường hợp bị cáo bỏ trốn trong thời hạn chuẩn bị xét xử được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Việc phân công Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà được hướng dẫn bởi Khoản 9 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
9. Chánh án có phải ra quyết định phân công Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà như thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định phân công điều tra viên điều tra vụ án không?

Điều 9 Pháp lệnh về thẩm phán và hội thẩm toà án nhân dân quy định "Thẩm phán làm nhiêm vụ theo sự phân công của Chánh án". Như vậy, luật pháp không bắt buộc khi phân công Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà, Chánh án phải ra một quyết định. Thực tiễn công tác của Toà án từ trước tới nay cũng cho thấy rằng chưa bao giờ Chánh án phải ra một quyết định phân công Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà và không có gì vi phạm tố tụng.

Xem nội dung VB
Việc phân công Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà được hướng dẫn bởi Khoản 9 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Phương pháp xác định tuổi của bị cáo trong vụ án "hiếp dâm trẻ em" được hướng dẫn bởi Khoản 10 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
10. Cần áp dụng phương pháp nào để xác định tuổi của bị cáo, của người bị hại được chính xác đối với tội "hiếp dâm trẻ em"?

Việc xác định một cách chính xác tuổi của bị cáo, của người bị hại là rất quan trọng. Vấn đề xác định lý lịch bị can, bị cáo nói chung và tuổi của bị cáo nói riêng đã được hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 20-6-1992 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về lý lịch của bị can, bị cáo". Trong Thông tư này đã hướng dẫn trách nhiệm xác minh, phương pháp xác minh và hướng giải quyết khi không xác minh được (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1992; trang 142 - 144). Tuy việc xác định tuổi của người bị hại chưa được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, nhưng việc xác minh, phương pháp xác minh cũng được thực hiện như việc xác minh tuổi của bị cáo.

Xem nội dung VB
Phương pháp xác định tuổi của bị cáo trong vụ án "hiếp dâm trẻ em" được hướng dẫn bởi Khoản 10 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Phương pháp xác định tuổi của người bị hại trong vụ án "hiếp dâm trẻ em" được hướng dẫn bởi Khoản 10 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
10. Cần áp dụng phương pháp nào để xác định tuổi của bị cáo, của người bị hại được chính xác đối với tội "hiếp dâm trẻ em"?

Việc xác định một cách chính xác tuổi của bị cáo, của người bị hại là rất quan trọng. Vấn đề xác định lý lịch bị can, bị cáo nói chung và tuổi của bị cáo nói riêng đã được hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 20-6-1992 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về lý lịch của bị can, bị cáo". Trong Thông tư này đã hướng dẫn trách nhiệm xác minh, phương pháp xác minh và hướng giải quyết khi không xác minh được (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1992; trang 142 - 144). Tuy việc xác định tuổi của người bị hại chưa được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, nhưng việc xác minh, phương pháp xác minh cũng được thực hiện như việc xác minh tuổi của bị cáo.

Xem nội dung VB
- Người bị hại trong trường hợp bị cáo gây thương tích cho nhiều người nhưng chỉ có 1 người yêu cầu khởi tố được hướng dẫn bởi Khoản 12 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
12. Trong trường hợp bị cáo gây thương tích nhẹ cho nhiều người, nhưng chỉ có một người yêu cầu khởi tố vụ án. Vậy những người không có yêu cầu khởi tố vụ án, có được tham gia phiên toà với tư cách là người bị hại trong vụ án không?

Theo Công văn số 03/TATC ngày 22-10-1987 của Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn về Điều 109 Bộ luật hình sự", thì một số trường hợp cố ý gây thương tích tuy tỷ lệ thương tật của nạn nhân là từ 10% trở xuống, nhưng kẻ phạm tội vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự. Trong số đó có hai trường hợp kẻ phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 109 Bộ luật hình sự là:

- Phạm tội đối với nhiều người cùng một lúc (điểm 3 Mục A).

- Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người (điểm 4 Mục A).

Tại Hội nghị tổng kết công tác Toà án năm 1996, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn là Công văn số 03/TATC ngày 22-10-1987 ra đời lúc Bộ luật hình sự chưa có sửa đổi, bổ sung. Khi đó, tại điều 109 trong khoản 2 chưa có tình tiết tăng nặng "gây thương tích cho nhiều người hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người", nên các trường hợp nói trên kẻ phạm tội chỉ bị kết án theo khoản 1 Điều 109 Bộ luật hình sự. Theo Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung ngày 28-12-1989, thì trường hợp trên được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 109. Vì vậy, việc áp dụng điểm d khoản 2 Điều 109 không đòi hỏi thương tích của một hoặc tất cả các nạn nhân phải là từ 11% trở lên. Dù nhiều người bị thương chưa đến 11% trở lên thì kẻ phạm tội vẫn bị truy tố, xét xử theo điểm d khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự.

Như vậy theo hướng dẫn trên đậy, thì trong trường hợp bị cáo gây thương tích nhẹ cho nhiều người, cho dù chỉ có một người yêu cầu khởi tố vụ án, thì người phạm tội vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự và do đó, những người không có yêu cầu khởi tố vụ án đều được tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại trong vụ án.

Xem nội dung VB
Phương pháp xác định tuổi của người bị hại trong vụ án "hiếp dâm trẻ em" được hướng dẫn bởi Khoản 10 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
Người bị hại trong trường hợp bị cáo gây thương tích cho nhiều người nhưng chỉ có 1 người yêu cầu khởi tố được hướng dẫn bởi Khoản 12 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Tính công khai của phiên tòa được hướng dẫn bởi Khoản 14 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
14. Đề nghị hướng dẫn đối với vụ án phức tạp mà khi xét xử cần phải có mặt bị cáo bỏ trốn để đồi chất với các bị cáo khác, kiểm tra lại lời khai của bị cáo bỏ trốn đó tại phiên toà... nhằm xác định sự thật của vụ án, nếu không thì rất khó xét xử hoặc đối với vụ án chỉ có một bị cáo, không có người bị hại, nếu xét xử vắng mặt bị cáo thì thủ tục tiến hành tố tụng tại phiên toà không có thẩm vấn và chỉ có những người tiến hành tố tụng; do đó, phiên toà không có tính công khai?

Theo hướng dẫn tại đoạn 5 điểm 3 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 7-1-1995 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn thực hiện một số quy định về truy nã bị can, bị cáo trong giai đoạn truy tố và xét xử", thì đối với trường hợp Toà án đã có công văn yêu cầu truy nã bị cáo, nếu hết thời hạn một tháng, kể từ ngày có công văn yêu cầu mà việc truy nã vẫn chưa có kết quả, thì cơ quan đã ra lệnh truy nã phải thông báo cho Toà án biết để Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo. Trong một số trường hợp có nhiều bị cáo mà có bị cáo bỏ trốn, nếu khi xét xử có mặt bị cáo đó để đối chất thì việc xét xử thuận lợi hơn. Song không vì chưa bắt được bị cáo bỏ trốn mà Toà án không tiến hành xét xử. Mặc dù không có mặt bị cáo bỏ trốn để đối chất, nhưng Toà án cần công bố những lời khai của bị cáo bỏ trốn (Nếu đã lấy được lời khai), căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra để xét xử.

Không nên hiểu rằng đối với vụ án chỉ có một bị cáo, không có người bị hại, nếu xét xử vắng mặt bị cáo thì không có thẩm vấn và do đó phiên toà không có tính công khai. "Tính công khai" được hiểu là mọi người (trừ những người được quy định tại khoản 4 Điều 171 Bộ luật tố tụng hình sự) đều có quyền tham dự phiên toà (Điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự) và tại phiên toà lời khai của bị cáo vắng mặt cũng như các chứng cứ khác để kết tội bị cáo được công bố công khai; Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, người bào chữa trình bày lời bào chữa (nếu có)...

Xem nội dung VB
Tính công khai của phiên tòa được hướng dẫn bởi Khoản 14 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Vụ án không đề cập đến thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra được hướng dẫn bởi Khoản 16 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
16. Một vụ án hình sự mà từ giai đoạn điều tra đến xét xử không đề cập đến thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, thì vụ án được giải quyết như thế nào? Nếu trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà Viện kiểm sát không điều tra bổ sung, thì Toà án có tiếp tục xét xử vụ án hay không?

Theo Kết luận của Chánh án Toà án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án toàn quốc năm 1994, thì: "Khi có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội hình sự và có gây thiệt hại về tài sản hoặc vật chất cho người khác, thì về nguyên tắc phải giải quyết ngay trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự; Nếu chưa điều tra làm rõ sự thiệt hại thì đương nhiên phải coi là chứng cứ chưa đầy đủ hoặc chưa có đầy đủ căn cứ để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để quyết định mức án; do đó, nếu vụ án đang xem xét ở giai đoạn sơ thẩm mà việc điều tra ở phiên toà khó có thể làm rõ được, thì phải hoàn lại hồ sơ cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung". Tuy nhiên, cũng được đề cập thêm rằng, trong một số trường hợp, tuy chưa xác định thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần cụ thể do hành vi phạm tội gây ra, nhưng Toà án vẫn có thể tiến hành xét xử mà không cần phải điều tra bổ sung (như xét xử bị cáo về tội giết người). Thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần cụ thể trong các trường hợp này sẽ được giải quyết trong một vụ án dân sự khác, khi có yêu cầu.

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự, thì "Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Toà án yêu cầu bổ sung mà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, thì Toà án vẫn tiến hành xét xử". Trong trường hợp này, thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra được xác định qua tài liệu và chứng cứ mà Toà án đã thu thập được và thông qua phần thẩm vấn tại phiên toà; Nếu như, do Viện kiểm sát không điều tra bổ sung được và tại phiên toà thiệt hại không thể xác định được nên không có căn cứ để kết án bị cáo, thì Toà án tuyên bố bị cáo không phạm tội như Viện kiểm sát truy tố, vì không đủ chứng cứ kết án bị cáo về tội đó.

Xem nội dung VB
Vụ án không đề cập đến thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra được hướng dẫn bởi Khoản 16 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Thẩm quyền xét xử lại phần dân sự đối với bản án hình sự sơ thẩm do Tóa cấp tỉnh xét xử được hướng dẫn bởi Khoản 17 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
17. Đối với những bản án hình sự sơ thẩm do Toà án cấp tỉnh xét xử nhưng khi xét xử phúc thẩm, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tuyên huỷ phần quyết định về dân sự, giao hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại, thì Toà án cấp sơ thẩm ở đây là Toà án cấp huyện hay Toà án cấp tỉnh? Thủ tục xét xử lại phần dân sự đó theo thủ tục tố tụng hình sự hay theo thủ tục tố tụng dân sự?

Khi Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm giao cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại, tức là giao cho Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó. Như vậy, trong trường hợp nêu trên đây, thì toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm lại vụ án đó là Toà án cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm vụ án đó. Vì đây vẫn là một vụ án hình sự và giao cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại một phần trong vụ án hình sự, cho nên thủ tục xét xử sơ thẩm lại về phần quyết định bị huỷ cho dù đó là quyết định về dân sự trong vụ án đó được tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ để giải quyết được đúng đắn khi xét xử sơ thẩm lại thì việc tiến hành các việc đó được thực hiện theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Cũng cần lưu ý là trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm huỷ phần quyết định về dân sự để giải quyết trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu, thì trong trường hợp này việc thụ lý, giải quyết khi có yêu cầu được tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
10. Điều 145 về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 145. Thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp

1. Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt từ bảy năm tù trở xuống, trừ những tội sau đây:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội quy định tại các điều 95, 96, khoản 1 Điều 172 và các điều 222, 223, 263, 293, 294, 295, 296 Bộ luật Hình sự .

2. Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử."

Xem nội dung VB
Thẩm quyền xét xử lại phần dân sự đối với bản án hình sự sơ thẩm do Tóa cấp tỉnh xét xử được hướng dẫn bởi Khoản 17 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Trường hợp vụ án có nhiều bị cáo nhưng chỉ có 1 số bị cáo kháng cáo, bị kháng nghị mà trong thời hạn chờ xét xử phúc thẩm thì thời hạn phạt tù theo bản án sơ thẩm đã hết được hướng dẫn bởi Khoản 19 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
19. Trong một vụ án có nhiều bị cáo nhưng chỉ có một số bị cáo kháng cáo còn một số bị cáo khác không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị. Trong khi chờ xét xử phúc thẩm thì thời hạn phạt tù theo bản án sơ thẩm đã hết. Vậy Toà án giải quyết như thế nào?

Các vấn đề này đã được hướng dẫn tại Công văn số 13/KHXX ngày 11-6-1996 của Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn giải quyết một số trường hợp cụ thể trong công tác xét xử và thi hành án phạt tù"; cụ thể là:

"1- Đối với trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm xong bản án hình sự sơ thẩm bị kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã bị tạm giam bằng mức hình phạt tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo, thì theo quy định tại Điều 215a Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án cấp phúc thẩm có trách nhiệm xem xét và tuỳ từng trường hợp cụ thể mà ra một trong các quyết định sau đây:

a) Quyết định huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn là tạm giam đối với bị cáo và trả tự do cho bị cáo (nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác) trong trường hợp bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Viện kiểm sát kháng nghị theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc trong trường hợp người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, nhưng Toà án cấp phúc thẩm xét thấy không cần tiếp tục tạm giam bị cáo để hoàn thành việc xét xử.

b) Quyết định tạm giam đối với bị cáo, trong trường hợp người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo và Toà án cấp phúc thẩm xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để hoàn thành việc xét xử.

Trong trường hợp thấy gần hết thời hạn tù Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo mà Toà án cấp phúc thẩm vẫn chưa ra một trong các quyết định nói trên thì Toà án cấp sơ thẩm cần chủ động yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sớm giải quyết theo thẩm quyền.

2. Đối với trường hợp bị cáo bị Toà án cấp sơ thẩm phạt tù với mức án dài hơn thời gian đã bị tạm giam (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) dưới 30 ngày và trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị bị cáo đã bị tạm giam bằng mức hình phạt tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo, nhưng vẫn chưa có kháng cáo, kháng nghị, thì việc trả tự do cho bị cáo là thuộc thẩm quyền của Viện Kiểm sát (theo quy định tại khoản 6 Điều 23 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân). Trong trường hợp hết thời hạn phạt tù Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo và vẫn trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà Viện kiểm sát chưa ra quyết định trả tự do cho bị cáo, thì Toà án cấp sơ thẩm cần chủ động yêu cầu Viện kiểm sát sớm giải quyết theo thẩm quyền.

Cần lưu ý rằng trong trường hợp hết thời hạn phạt tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo và đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, thì Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định thi hành án phạt tù đối với người bị kết án, trong đó cần nói rõ người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù và yêu cầu cơ quan Công an trả tự do ngay cho người bị kết án, nếu họ không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác.

Tuy nhiên, để tránh tình trạng tương tự xẩy ra, từ nay về sau khi xét xử sơ thẩm, nếu Toà án cấp sơ thẩm thấy cần thiết quyết định đối với bị cáo mức án dài hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) trên một tháng thì mới kết án bị cáo theo mức án đó. Trong trường hợp chỉ thấy cần thiết kết án bị cáo với mức án dài hơn dưới 30 ngày (thông thường để làm quyết định con số tròn tháng), thì không nên kết án theo mức án đó, mà kết án bị cáo với mức án bằng đúng thời hạn tạm giam và trả ngay tự do cho bị cáo tại phiên toà.

Ví dụ: một bị cáo đã bị tam giam đến ngày xét xử sơ thẩm là 14 tháng 11 ngày. Nếu Toà án cấp sơ thẩm thấy cần thiết phạt bị cáo với mức án từ 16 tháng tù trở lên thì mới nên quyết định mức án đó. Ngược lại nếu Toà án cấp sơ thẩm xét thấy chưa cần thiết phạt bị cáo với mức án 16 tháng tù mà thấy chỉ cần phạt bị cáo mức án 15 tháng tù vì muốn quyết định con số tròn tháng, thì trong trường hợp này chỉ nên phạt bị cáo mức án bằng đúng thời hạn tạm giam là 14 tháng 11 ngày và trả tự do cho bị cáo tại phiên toà (nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác).

3- Đối với trường hợp trong một vụ án hình sự có nhiều bị cáo bị Toà án cấp sơ thẩm kết án, mà trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị chỉ có một hoặc một số bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, bị kháng nghị, thì căn cứ vào Điều 211, Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự, phần của bản án hình sự sơ thẩm đối với những bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật và được thi hành; do đó, đối với những bị cáo này Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định thi hành án phạt tù đối với họ (nếu họ bị phạt tù)." (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1996; trang 194 - 195).

Cũng cần chú ý là đối với trường hợp thứ 3 được hướng dẫn tại điểm 3 trong công văn trên đây mà thời hạn phạt tù đã hết, thì cũng được thực hiện như hướng dẫn tại điểm 2 trong Công văn này; cụ thể là trong quyết định thi hành án phạt tù cần nói rõ người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù và yêu cầu cơ quan Công an trả tự do ngay cho người bị kết án, nếu họ không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác.

Xem nội dung VB
- Hồ sơ thi hành án phạt tù được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Công văn 24/1999/KHXX

Tại Hội nghị công tác ngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dân tối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đề nghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối cao giải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1. Hồ sơ thi hành án phạt tù của Toà án gồm những giấy tờ gì?

Theo quy định tại Điều 15 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, thì hồ sơ thi hành án phạt tù của Toà án bước đầu phải có bản sao bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành bản án, quyết định đó của Toà án. Ngoài hai loại giấy tờ này, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà có những loại giấy tờ khác. Ví dụ, nếu sau khi ra quyết định thi hành án phạt tù mà người bị kết án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự mà được hoãn thi hành án phạt tù thì trong hồ sơ thi hành án phạt tù được bổ sung quyết định hoãn thi hành án phạt tù. Nếu sau khi ra quyết định thi hành án phạt tù mà người bị kết án đã vào trại giam, thì trong hồ sơ thi hành án phạt tù được bổ sung văn bản thông báo của giám thị trại giam nơi người bị kết án chấp hành hình phạt tù về việc đã tiếp nhận người bị kết án tù đã vào trại giam.

Nói chung trong quá trình thi hành án phạt tù mà Toà án hay các cơ quan khác có thẩm quyền ra bất kỳ một quyết định, văn bản nào có liên quan đến việc thi hành án phạt tù thì phải được bổ sung vào hồ sơ, như bản sao quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt từ; bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; bản sao quyết định đặc xá v.v...

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn từ Điểm 4 đến Điểm 14 Công văn 481-NCPL năm 1992

4. Tại Công văn số 311/NCPL ngày 25-12-1990 Toà án nhân dân tối cao đã lưu ý các Toà án các cấp một số điểm về hoãn thi hành án phạt tù, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù. (Công văn này đã được đăng tải trong Tạp chí Toà án nhân dân số 12 năm 1990). Nay Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án các cấp thêm một số điểm như sau về hoãn thi hành án phạt tù:

a) Khi đã hết hạn hoãn chấp hành hình phạt tù theo các điểm 2, 3, 4 Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự (từ ba tháng đến một năm đối với phụ nữ có thai hoặc mới sinh đẻ, một năm đối với ngưới bị kết án là người lao động duy nhất trong gia đình, sáu tháng đến một năm đối với quân nhân bị kết án). Toà án phải ra ngay quyết định thi hành án đói với người đã được hoãn chấp hành hình phạt tù và theo dõi, đôn đốc để việc bắt họ chấp hành hình phạt tù được thực hiện nghiêm chỉnh.

b) Đối với người được hoãn chấp hành hình phạt tù vì lý do họ ốm nặng (điểm 1 Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự) Toà án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú theo dõi bệnh trạng của họ để nếu thấy sức khoẻ của họ đã hồi phục thì ra ngay quyết định thi hành án phạt tù và theo dõi đôn đốc để việc bắt họ đi chấp hành hình phạt tù được thực hiện nghiêm chỉnh.

c) Kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng tăng hình phạt tù hoặc giảm một phần hình phạt tù được coi là kháng nghị đối với một phần quyết định về hình phạt: do đó trong trường hợp có kháng nghị giám đốc thẩm theo các hướng này, Toà án vẫn ra quyết định thi hành án phạt tù và theo dõi đôn đốc để việc bắt người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù được thực hiện nghiêm chỉnh.

Trong trường hợp có kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng tuyên bố không phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, cho hưởng án treo đối với người bị phạt tù thì Toà án đã xử sơ thẩm (hoặc Toà án đã được uỷ thác ra quyết định thi hành án) chưa ra quyết định thi hành án mà cần chờ kết quả xét xử giám đốc thẩm.

d) Tuyệt đối không cho người bị kết án hoãn chấp hành hình phạt tù ngoài các trường hợp đã được quy định tại các điểm 1, 2, 3, 4 Điều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự.

5. Toà án đã ra quyết định thi hành án chỉ được ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù trong trường hợp Viện kiểm sát hoặc Ban giám định trại giam đề nghị cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù vì các lý do được quy định tại các điểm 1, 2, 3 Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, khi các Toà án nhận được đơn của người bị kết án hoặc của thân nhân của họ hay cơ quan, tổ chức xin cho họ được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cần gửi ngay đơn đó cho Ban giám thị trại giam (nếu biết rõ nơi họ đang chấp hành hình phạt tù) hoặc gửi đơn đó cho Viện Kiểm sát cùng cấp (nếu không biết rõ nơi họ đang chấp hành hình phạt tù); đồng thời báo cho người hoặc cơ quan , tổ chức hữu quan biết và hướng dẫn cho họ biết rõ là chỉ có Ban giám thị trại giam hoặc Viện Kiểm sát mới có quyền đề nghị và Toà án chỉ xem xét khi các cơ quan này đã gửi cho Toà án văn bản đề nghị cho người bị kết án được tạm đỉnh chỉ chấp hành hình phạt tù.

6. Nếu Ban chấp hành giám thị trại giam hoặc Viện kiểm sát chỉ chuyển đơn cho Toà án mà không có văn bản chính thức đề nghị Toà án cho người bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì Toà án không có quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù. Trong trường hợp này Toà án trả lại đơn cho Ban giám thị trại giam hoặc Viện kiểm sát cùng cấp để các cơ quan này giải quyết theo thẩm quyền, nghĩa là để các cơ quan này chính thức đề nghị Toà án cho người bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù nếu thấy có đủ căn cứ hoặc không đề nghị cho họ được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù nếu không có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.

7. Nếu Ban giám thị trại giam hoặc Viện kểm sát đề nghị cho người bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì lý do họ bị ốm nặng, nhưng chưa có kết luận của giám định y khoa, thì Toà án không tự mình tổ chức giám định y khoa và tuỳ trường hợp cụ thể mà yêu cầu Ban giám thị trại giam hoặc Viện kiểm sát tổ chức giám định sức khoẻ của người bị kết án và chỉ khi có kết luận của giám định y khoa thì Toà án mới xem xét để quyết định việc có cho ngưòi bị kết án đượoc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù hay không.

8. Nếu Toà án có ấn định thời hạn tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thì khi hết thời hạn đó Toà án phải ra ngay quyết định thi hành án đối với người đã đựoc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và theo dõi, đôn đốc để việc bắt họ đi chấp hành hình phạt được thực hiện nghiêm chỉnh.

9. Đối với các trường hợp tạm đình chỉ thi hành án phạt tù vì lý do người bị kết án ốm nặng, các Toà án cần lưu ý một số điểm như sau:

a) Nếu Toà án có ấn định thời hạn tạm đình chỉ thi hành án phạt tù và khi hết thời hạn đó mà người bị kết án yêu cầu được tiếp tục tại ngoại để chữa bệnh vì chưa phục hồi sức khoẻ ,thì Toà án tổ chức giám định sức khoẻ của họ để kết luận về bệnh trạng của họ (kinh phí giám định do họ chịu). Nếu kết luận của giám định y khoa cho thấy sức khoẻ của họ đã phục hồi thì Toà án cần ra ngay quyết định thi hành án đối với họ và theo dõi, đôn đốc việc để bắt họ đi chấp hành hình phạt tù được thực hiện nghiêm chỉnh. Còn nếu kết luận của giám định y khoa cho thấy là sức khoẻ của họ chưa được phục hồi, thì Toà án ra quyết định kéo dài việc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thêm một thời gian nữa hoặc cho đến khi sức khoẻ của họ phục hồi.

b) Nếu Toà án không ấn định thời hạn tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thì Toà án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền xã, phường thị trấn nơi ngưòi bị kết án cư trú theo dõi bệnh trạng của họ để nếu thấy sức khoẻ của họ đã phục hồi thì ra ngay quyết định thi hành án đối với họ. Nếu Toà án thấy khó đánh giá sức khoẻ của họ đã phục hồi hay chưa phục hồi thì cần tổ chức giám định sức khoẻ của họ (kinh phí giám định do họ chịu) và kết luận của giám định y khoa là căn cứ để Toà án quyết định việc cho họ được tiếp tục tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù hoặc buộc họ pháp tiếp tục chấp hành hình phạt tù.

10. Các Toà án các cấp cần rà soát lại các trường hợp hoãn thi hành án phạt tù và tạm đình chỉ thi hành án phạt tù mà hiện nay ngưòi bị kết án chưa chấp hành hoặc chưa chấp hành xong hình phạt tù do được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để nếu thấy có trường hợp nào không đúng với quy định của pháp luật và các hướng dẫn đã có, cũng như các hướng dẫn trong công văn này, thì cần có biện pháp khắc phục để việc thi hành án đối với họ được thực hiện nghiêm chỉnh. Đặc biệt là đối với các trường hợp đã có quyết định cho hoan hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù không đúng với quy định tại Điều 231, 232 Bộ luật Tố tụng hình sự thì cần huỷ quyết định đó và ra lệnh bắt họ chấp hành hình phạt tù.

11. Cần nghiêm chỉnh tuân thủ quy định của các điều 49, 51 Bộ luật Hình sự về thời gian đã chấp hành hình phạt để được xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù lần đầu là một phần ba thời hạn đối với các hình phạt tù 20 năm tù trở xuống , 10 năm tù đối với chung thân, về việc Toà án chỉ có thể xét giảm váo thời gian sớm hơn nếu ngưòi bị kết án có lý do đáng được khoan hồng như đã lập công ( cần hiểu là lập công trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù), đã quá già yếu, đang mắc bệnh hiểm nghèo.

12. Việc xét giảm thời chấp hành hình phạt phải theo đúng thủ tục đã được quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tại Thông tư liên ngành số 04-89/TTLN ngày 15-8-1989 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Cần chấm dứt việc đại diện các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát, Tư pháp, Nội chính đến trại giam cùng nhau xét duyệt và quyết định việc giảm hoặc không giảm thời hạn chấp hành hình phạt cho những người đang chấp hành hình phạt tù.

13. Chỉ theo đề nghị của Viện kiểm sát, chứ không theo đề nghị của bất cứ cá nhân, tổ chức nào, Toà án mới xem xét đẻ miễn hoặc không miễn chấp hành toàn bộ hình phạt cho người chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc đang mắc bệnh hiểm nghèo và nêú người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Tuyệt đối không được miễn chấp hành hình phạt tù cho ngưòi bị kết án không lập công lớn, ngưòi bị kết án không mắc bệnh hiểm nghèo. Tuyệt đối không được cho miễn chấp hành hình phạt tù chỉ vì lý do cơ quan hoặc tổ chức yêu cầu cho ngưòi bị kết án được miễn chấp hành hình phạt để họ tiếp tục công tác hoặc vì lý do để cho ngưòi bị kết án ra nước ngoài để định cư.

14. Đối với những ngưòi bị kết án đã đước tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì những lý do khác nhau đã được nêu tại các Điều 231, 232 Bộ luật Tố tụng hình sự mà không lập công lớn hoặc không mắc bệnh hiểm nghèo thì không được miễn cho họ chấp hành hình phạt tù còn lại vì các lý do như hoàn cảnh gia đình họ có khó khăn, họ bị bênh khôg phải mắc bệnh hiểm nghèo... Đối với họ tuỳ trường hợp cụ thể mà bắt phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù hoặc cho được tiếp tục tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Xem nội dung VB
Trường hợp vụ án có nhiều bị cáo nhưng chỉ có 1 số bị cáo kháng cáo, bị kháng nghị mà trong thời hạn chờ xét xử phúc thẩm thì thời hạn phạt tù theo bản án sơ thẩm đã hết được hướng dẫn bởi Khoản 19 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
Hồ sơ thi hành án phạt tù được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Công văn 24/1999/KHXX
Điều này được hướng dẫn từ Điểm 4 đến Điểm 14 Công văn 481-NCPL năm 1992
- Hiệu lực của quyết định trong bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị được hướng dẫn bởi Khoản 20 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
20. Trong phần quyết định của bản án phúc thẩm có tuyên: "những quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật"; Tuyên như vậy thì phần quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực từ ngày nào, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hay kể từ ngày tuyên án phúc thẩm? Cấp sơ thẩm ra quyết định thi hành án phạt tù đồi với các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị thì căn cứ vào bản án phúc thẩm hay bản án sơ thẩm?

Theo hướng dẫn tại điểm 1 mục II Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 26-12-1986 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự", thì ngày bản án có hiệu lực pháp luật là: "ngày tuyên bản án sơ thẩm đồng thời chung thẩm; ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị nếu bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị; ngày tuyên bản án phúc thẩm...". Như vậy, phần quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Theo tinh thần quy đinh tại Điều 211 Bộ luật tố tụng hình sự, thì phần của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật và được thi hành. Đồng thời căn cứ vào Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự thì Toà án ra quyết định thi hành án phạt tù đối với các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị là phải căn cứ vào bản án sơ thẩm (vấn đề này cũng đã được hướng dẫn tại Công văn số 79/KHXX ngày 19-7-1997 của Toà án nhân dân tối cao về "Việc hướng dẫn áp dụng pháp luật". (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; năm 1998; trang 79 - 80).

Xem nội dung VB
Hiệu lực của quyết định trong bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị được hướng dẫn bởi Khoản 20 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Việc áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn được hướng dẫn bởi Khoản 21 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
21. Khoản 3 Điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự quy định Toà án cấp phúc thẩm có thể áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn (so với Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử). Vậy quy định này có trái với quy định tại Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự không?

Các quy định tại hai điều luật này hoàn toàn không có gì mâu thuẫn với nhau. Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về giới hạn của việc xét xử đối với Toà án cấp sơ thẩm; còn Điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trong việc sửa bản án sơ thẩm. Theo quy định tại khoản 3 Điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự, thì chỉ trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu, thì Toà án cấp phúc thẩm mới có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn.

Xem nội dung VB
Việc áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn được hướng dẫn bởi Khoản 21 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Hồ sơ giảm án phạt tù được hướng dẫn bởi Khoản 26 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
26. Đề nghị có văn bản hướng dẫn các trường hợp phạm nhân do trại của V26 quản lý là người bị kết án theo bản án của Toà án tỉnh khác, nay xét giảm án phạt tù tại tỉnh đang chấp hành hình phạt tù là rất khó khăn vì không có hồ sơ.

Khi xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì chỉ cần có hồ sơ xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, chứ không phải hồ sơ vụ án. Về vấn đề này đã được hướng dẫn tại mục II Thông Tư liên ngành số 04-89/TTLN ngày 15-8-1989 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng, năm 1990; trang 145).

Xem nội dung VB
- Trường hợp Tòa án ra quyết định thi hành hoặc tiếp tục thi hành án sau khi tạm hoãn hoặc tạm đình chỉ thì thời hiệu thi hành bản án đã hết được hướng dẫn bởi Khoản 27 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
27. Trong trưòng hợp người bị kết án được hoãn hoặc được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, nhưng đến thời điểm Toà án ra quyết định thi hành án hoặc quyết định tiếp tục thi hành án thì đã hết thời hiệu thi hành bản án theo quy định tại Điều 46 Bộ luật tố tụng hình sự. Những trường hợp này Toà án có buộc người bị kết án phải chấp hành án nữa hay không. Đối với trường hợp mà ngươi bị kết án chưa khỏi bệnh thì Toà án có còn ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án nữa hay không?

Trường hợp này đã được hướng dẫn một phần tại điểm 3 mục III Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 26-12-1986 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự; cụ thể là"... Đối với trường hợp những người phạm tội nhẹ, chỉ bị xử phạt tù từ 5 năm tù trở xuống mà vì bệnh tật, sinh đẻ hoặc vì hoàn cảnh khó khăn được hoãn thi hành án nhiều lần, thời gian hoãn đã bằng thời hiệu thi hành án mà trong thời gian đó họ không phạm tội mới, không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì Toà án ra quyết định miễn chấp hành hình phạt tù...". Nếu người bị kết án được hoãn hoặc được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, nhưng khi Toà án ra quyết định thi hành án phạt tù hoặc quyết định tiếp tục thi hành án phạt tù mà đã hết thời hiệu thi hành bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự (trừ các trường hợp được quy định tại các khoản 2 và 3 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự), thì không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án nữa và Toà án ra thông báo về việc hết thời hiệu thi hành bản án.

Đối với người bị kết án được hoãn hoặc được tạm đình chỉ với lý do "Người bị kết án ốm nặng", thì việc tiếp tục được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù hay ra quyết định thi hành án hoặc quyết định tiếp tục thi hành án đối với họ đã được hướng dẫn tại đoạn 2 điểm d mục 2 Thông Tư liên ngành số 03/TTLN ngày 30-6-1993 của Toà án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh thi hành án phạt tù"; cụ thể là : "Toà án đã ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù có trách nhiệm phối hợp với chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú theo dõi bệnh trạng của họ để nếu thấy sức khoẻ của họ đã phục hồi thì ra ngay quyết định thi hành án đối với người được hoãn chấp hành hình phạt tù hoặc quyết định tiếp tục thi hành án đối với người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Nếu Toà án thấy khó đánh giá là sức khoẻ của người bị kết án đã phục hồi hay chưa, thì cần tổ chức giám định sức khoẻ của họ (chi phí giám định do người bị kết án chịu). Kết luận của giám định y khoa là căn cứ để Toà án quyết định việc cho họ tiếp tục được hoãn hoặc tạm định chỉ chấp hành hình phạt tù hay ra quyết định thi hành án hoặc quyết định tiếp tục thi hành án đối với họ" (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; năm 1995; trang 112).

Xem nội dung VB
Hồ sơ giảm án phạt tù được hướng dẫn bởi Khoản 26 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
Trường hợp Tòa án ra quyết định thi hành hoặc tiếp tục thi hành án sau khi tạm hoãn hoặc tạm đình chỉ thì thời hiệu thi hành bản án đã hết được hướng dẫn bởi Khoản 27 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Việc tạm giữ tài sản để đảm bảo việc thi hành án được hướng dẫn bởi Khoản 28 Mục II Công văn 16/1999/KHXX

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
28. Cần có hướng dẫn việc tạm giữ tài sản để đảm bảo việc thi hành án trong các vụ án hình sự. Chỉ tiến hành kê biên đối với tài sản không thể tạm giữ được vì đối với tài sản kê biên cơ quan pháp luật không thể kiểm soát được. Trong khi đó nhiều trường hợp các đương sự cố tình tẩu tán tài sản?

Vấn đề này đã được hướng dẫn tại Thông Tư liên tịch số 06/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BTC ngày 24-10-1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính "Hướng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử lý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự". Theo tinh thần hướng dẫn tại điểm 1 mục I Thông tư này thì các cơ quan tiến hành tố tụng không được tạm giữ đối với tài sản không phải là vật chứng. Trong trường hợp thật cần thiết để đảm bảo thi hành án đối với các hình phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thường thiệt hại, thì cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định kê biên đối với tài sản đó. Việc kê biên tài sản phải được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự và theo đúng hướng dẫn tại mục II Thông Tư liên tịch trên đây.

Xem nội dung VB
Việc tạm giữ tài sản để đảm bảo việc thi hành án được hướng dẫn bởi Khoản 28 Mục II Công văn 16/1999/KHXX
- Trường hợp người bị hại gửi đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án cho Tòa phúc thẩm sau khi xét xử sơ thẩm đối với vụ án truy tố theo Khoản 1 Điều 109 được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Công văn 24/1999/KHXX

Tại Hội nghị công tác ngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dân tối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đề nghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối cao giải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
3. Một người phạm tội cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 109 Bộ luật Hình sự và vụ án đối với họ đã được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Người phạm tội đã bị truy tố và Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử và kết án bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, người bị hại có đơn gửi Toà án cấp phúc thẩm xin rút yêu cầu khởi tố vụ án, thì Toà án cấp phúc thẩm giải quyết như thế nào?

Đối với trường hợp vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại và sau đó người bị hại rút yêu cầu, thì khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định: "Trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà thì vụ án phải được đình chỉ. Trong trường hợp cần thiết, tuy người bị hại rút yêu cầu, Viện Kiểm sát hoặc Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án". Tuy khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định chung chung là "Trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà" mà không quy định cụ thể là trước ngày mở phiên toà nói chung (sơ thẩm, phúc thẩm, kể cả giám đốc thẩm) hay chỉ là trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, song cần hiểu là chỉ trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà trước ngày mở phiên toà sơ thẩm người bị hại rút yêu cầu và Viện Kiểm sát hoặc Toà án xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tiến hành tố tụng thì vụ án phải được đình chỉ. Nếu chúng ta hiểu theo nghĩa rộng "trước ngày mở phiên toà" có thể là trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, có thể là trước ngày mở phiên toà phúc thẩm, (cũng có thể là kể cả trước ngày mở phiên toà giám đốc thẩm), thì trong trường hợp vị cáo không kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, mà chỉ có người bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án (có thể là trong thời hạn kháng cáo, có thể là sau khi hết thời hạn kháng cáo), thì rõ ràng vụ án không được thụ lý để xét xử phúc thẩm và trong trường hợp này đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án không được xem xét; do đó, nếu sau khi Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử sơ thẩm và trong thời hạn kháng cáo mà người bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án, thì coi đây là đơn kháng cáo của người bị hại. Trong trường hợp này, Toà án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án và giải quyết theo thủ tục chung. Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Toà án cấp phúc thẩm áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo. Trong trường hợp xét thấy cần thiết thì có thể không chấp nhận đơn kháng cáo của người bị hại mà vẫn giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm. Trong trường hợp sau khi Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử sơ thẩm và trong hạn kháng cáo, kháng nghị không có kháng cáo, kháng nghị, chỉ có sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị người bị hại mới có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án, thì vụ áníẽ được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm.

Xem nội dung VB
Trường hợp người bị hại gửi đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án cho Tòa phúc thẩm sau khi xét xử sơ thẩm đối với vụ án truy tố theo Khoản 1 Điều 109 được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Công văn 24/1999/KHXX
- Hiệu lực của bản án sơ thẩm trong vụ án có nhiều bị cáo mà chỉ có một số bị cáo kháng cáo hoặc bị kháng nghị được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Công văn 24/1999/KHXX

Tại Hội nghị công tác ngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dân tối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đề nghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối cao giải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
6. Theo quy định tại Điều 226 Bộ luật Tố tụng hình sự thì một trong những loại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thi hành là "Những bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm" (điểm b khoản 1). Vậy trong một vụ án có nhiều bị cáo, có bị cáo kháng cáo hay bị kháng cáo, kháng nghị, có bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, thì bản án sơ thẩm đó đã có hiệu lực pháp luật hay chưa? Cần hiểu bản án có hiệu lực pháp luật hay phần bản án có hiệu lực pháp luật.

Khoản 1 Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: "Những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 226 Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành". Như vậy, theo quy định này thì những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị là có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành; nếu toàn bộ bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì toàn bộ bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành. Do đó, trong một vụ án có nhiều bị cáo, có bị cáo kháng cáo hay bị kháng cáo, kháng nghị, có bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, thì toàn bộ bản án sơ thẩm đó chưa có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này khái niệm "những bản án và quyết định" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 226 Bộ luật Tố tụng hình sự cần phải hiểu là phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị.

Xem nội dung VB
Hiệu lực của bản án sơ thẩm trong vụ án có nhiều bị cáo mà chỉ có một số bị cáo kháng cáo hoặc bị kháng nghị được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Công văn 24/1999/KHXX
- Thời điểm hiệu lục của bản án sơ thẩm trong trường hợp xét xử không có mặt bị cáo, đương sự được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Công văn 24/1999/KHXX

Tại Hội nghị công tác ngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dân tối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đề nghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối cao giải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:
...
II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...
2. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm không có mặt bị cáo, đương sự tại phiên toà, thì đến thời điểm nào mà vẫn không có kháng cáo của những người này bản án sơ thẩm bắt đầu có hiệu lực đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm?

Theo hướng dẫn tại khoản 1 Mục II Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 26-12-1996 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự", thì bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Theo quy định tại khoản 1 Điều 208 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì "Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án". Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản sao bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Thời hạn kháng nghị của Viện Kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án. Như vậy theo các quy định và hướng dẫn trên đây, thì đối với trường hợp xét xử sơ thẩm không có mặt bị cáo, đương sự tại phiên toà, thì việc xác định thời điểm nào mà vẫn không có kháng cáo của họ, bản án sơ thẩm bắt đầu có hiệu lực pháp luật cần phân biệt như sau:

- Nếu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm mà Toà án cấp sơ thẩm đã giao bản sao bản án cho họ hoặc đã niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú hoặc làm việc, thì thời điểm bản án hình sự sơ thẩm bắt đầu có hiệu lực đối với họ bắt đầu từ ngày hết thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên, (tức là bắt đầu từ ngày thứ 31 kể từ ngày tuyên án).

- Nếu sau 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm mà Toà án cấp sơ thẩm mới giao bản sao bản án cho họ hoặc mới niêm yết tại Trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú hoặc làm việc, thì thời điểm bản án hình sự sơ thẩm bắt đầu có hiệu lực đối với họ bắt đầu từ ngày thứ 16, kể từ ngày niêm yết (nếu những người khác có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án đối với họ mà không có kháng cáo, kháng nghị).

Xem nội dung VB
Thời điểm hiệu lục của bản án sơ thẩm trong trường hợp xét xử không có mặt bị cáo, đương sự được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Công văn 24/1999/KHXX
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Tại các Điều 20, 28, 42, 159, 166, 174, 184, 191, 198, 203, 205, 217, 218, 249, 251 và 263 thay các chữ "quyền và lợi ích hợp pháp" bằng chữ "quyền lợi, nghĩa vụ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2- Khoản 3 Điều 29 về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"3. Người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự".

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
3- Điểm d khoản 1 Điều 62 về việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"d) Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong Quân đội nhân dân. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành".

Xem nội dung VB
Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
4- Điểm b ... khoản 1 ... Điều 63 về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"b) Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

Xem nội dung VB
Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
4- ... điểm c khoản 1... Điều 63 về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
c) Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.

Xem nội dung VB
Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
4- ... điểm b khoản 2 Điều 63 về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
2. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:

a) Trưởng Công an, Phó trưởng Công an cấp huyện; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong Quân đội nhân dân;

Xem nội dung VB
Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
4- ... điểm b khoản 2 Điều 63 về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
2. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:
...
b) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;"

Xem nội dung VB
Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
5- Khoản 2 Điều 68 về tạm giữ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"2. Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 63 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giữ".

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
6- Khoản 2 Điều 69 về thời hạn tạm giữ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"2. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày. Trong trường hợp đặc biệt, cơ quan ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai và cũng không được quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn".

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
7- Khoản 1 Điều 70 về tạm giam, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong những trường hợp nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội".

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
8- Tên điều và khoản 2, khoản 3 Điều 93 về quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 93. Quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm và các cơ quan khác của lực lượng Cảnh sát nhân dân, lực lượng An ninh nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

2- Trong lực lượng Cảnh sát nhân dân, lực lượng An ninh nhân dân, Quân đội nhân dân, ngoài các cơ quan điều tra quy định tại Điều 92 của Bộ luật này, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội, thì có quyền: khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm và các cơ quan khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân, Lực lượng An ninh nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, do Hội đồng Nhà nước quy định".

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
9- Điểm a khoản 3 Điều 141 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"a) Kiểm sát việc khởi tố, tự mình khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và chuyển đến cơ quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra; trực tiếp điều tra trong những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 92 của Bộ luật này;

Xem nội dung VB
Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
10- Đoạn 2 khoản 1... Điều 142 về quyết định của Viện kiểm sát sau khi kết thúc điều tra, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thêm, nhưng không quá ba mươi ngày."

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
10- ... khoản 2 Điều 142 về quyết định của Viện kiểm sát sau khi kết thúc điều tra, được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
"2. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều này. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không được quá ba mươi ngày."

Xem nội dung VB
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
9... khoản 2 Điều 142 về quyết định của Viện kiểm sát sau khi kết thúc điều tra được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
2. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
11- Đoạn 2 khoản 2 Điều 151 về thời hạn chuẩn bị xét xử, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Toà án có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá ba mươi ngày."

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
12- Điều 152 về áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Toà án có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án hoặc Phó chánh án Toà án quyết định.

Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 151 của Bộ luật này.

Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên toà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Toà án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên toà."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
13- Đoạn 1 Điều 205 về những người có quyền kháng cáo, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm".

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
14- Khoản 1 Điều 208 về thời hạn kháng cáo, kháng nghị, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản sao bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
15- Điều 215 về thời hạn xét xử phúc thẩm, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu phải mở phiên toà phúc thẩm trong thời hạn không quá sáu mươi ngày; Toà án quân sự cấp cao, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao phải mở phiên toà phúc thẩm trong thời hạn không quá chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án".

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 16 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
16- Khoản 2 Điều 217 về những người tham gia phiên toà phúc thẩm được sửa đổi, bổ sung như sau:

"2. Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị được triệu tập tham gia phiên toà. Nếu có người vắng mặt mà có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành xét xử, nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt; trong các trường hợp khác thì phải hoãn phiên toà.

Thời hạn hoãn phiên toà theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này hoặc tại các Điều 30, 31 và 33 của Bộ luật này không được quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 16 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 17 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
17- Khoản 1 Điều 232 về tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Theo đề nghị của Viện kiểm sát hoặc của Ban giám thị trại giam, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có thể cho người bị kết án không phải là phần tử nguy hiểm được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong các trường hợp quy định tại Điều 231 của Bộ luật này. Việc tạm đình chỉ để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm phải do người đã kháng nghị hoặc do toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm quyết định."

Xem nội dung VB
- Cụm từ "Điều 231 Bộ luật này" tại khoản này được thay thế bởi Điểm k Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
k) Thay chữ số "Điều 231 Bộ luật này" tại khoản 1 Điều 232 bằng các chữ số "khoản 1 Điều 61 và Điều 62 Bộ luật hình sự";

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 17 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Cụm từ "Điều 231 Bộ luật này" tại khoản này được thay thế bởi Điểm k Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1 - Khoản 4 Điều 43 về người làm chứng được sửa đổi, bổ sung như sau:

"4. Người làm chứng đã được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án triệu tập, nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng, thì có thể bị dẫn giải.

Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 242 của Bộ luật hình sự; khai gian dối thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 241 của Bộ luật hình sự."

Xem nội dung VB
- Cụm từ "Điều 242" trong khoản này bị thay thế bởi Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

a) Thay chữ số "Điều 242" tại khoản 3 Điều 39, khoản 4 Điều 43, khoản 3 Điều 44 bằng chữ số "Điều 308";

Xem nội dung VB
- Cụm từ "Điều 241" trong khoản này bị thay thế bởi Điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
b) Thay chữ số "Điều 241" tại khoản 4 Điều 43, khoản 3 Điều 44, khoản 2 Điều 45 bằng chữ số "Điều 307";

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Cụm từ "Điều 242" trong khoản này bị thay thế bởi Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Cụm từ "Điều 241" trong khoản này bị thay thế bởi Điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2- Đoạn 2 khoản 1 Điều 121 về kê biên tài sản được sửa đổi như sau:

"Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 62 của Bộ luật này có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 62 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành."

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được bổ sung bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
5- Điều 256 về huỷ bản án hoặc quyết định để điều tra lại hoặc xét xử lại được bổ sung một đoạn vào cuối điều như sau:

"Trong trường hợp huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc để xét xử lại và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Hội đồng giám đốc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Toà án thụ lý lại vụ án."

Xem nội dung VB
Điều này được bổ sung bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 1, 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2: Bổ sung một số điều mới vào Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Điều 143a. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khi qua nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy:

1. Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;

2. Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội khác hoặc có người đồng phạm khác;

3. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Những vấn đề cần được điều tra bổ sung phải được nói rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.

2- Điều 143b. Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

1. Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 89 của Bộ luật này hoặc tại Điều 16, khoản 1 Điều 48 và khoản 3 Điều 59 của Bộ luật hình sự.

2. Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong những trường hợp sau đây:

a) Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y;

b) Khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu; trong trường hợp này phải yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can.

3. Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can.

Xem nội dung VB
Chương này được bổ sung bởi Khoản 1, 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Bổ sung Điều 10a về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

"Điều 10a. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình.

Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật."

Xem nội dung VB
Chương này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Điểm a khoản 1 ... Điều 63 về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp được sửa đổi, bổ sung như sau:

"a) Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;"

Xem nội dung VB
Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. ... khoản 4 Điều 63 về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
"4. Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn.

Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều này. Nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
4. Điều 71 về thời hạn tạm giam được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 71. Thời hạn tạm giam

1. Thời hạn tạm giam để điều tra không quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

a) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở lên và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu trở lên có quyền gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng đối với tội ít nghiêm trọng, có quyền gia hạn tạm giam lần thứ nhất không quá hai tháng đối với tội nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội rất nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng;

b) Trong trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a khoản này đã hết mà vẫn không thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở lên và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu trở lên có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai không quá một tháng đối với tội nghiêm trọng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai không quá hai tháng đối với tội rất nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng.

3. Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng, trong trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ hai quy định tại điểm b khoản 2 Điều này đã hết và vụ án có nhiều tình tiết rất phức tạp mà không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn tạm giam lần thứ ba không quá bốn tháng.

Trong trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm.

4. Trong khi tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
6. Khoản 1 Điều 93 về quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm và các cơ quan khác của lực lượng Cảnh sát nhân dân, lực lượng An ninh nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình thì đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm có thẩm quyền:

a) Đối với tội ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, thì ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án;

b) Đối với tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
7. Điều 97 về thời hạn điều tra được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 97. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án không quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

2. Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn điều tra, cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội ít nghiêm trọng được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng;

b) Đối với tội nghiêm trọng được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng;

c) Đối với tội rất nghiêm trọng được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng;

d) Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

3. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp được quy định như sau:

a) Đối với tội ít nghiêm trọng thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp khu vực gia hạn điều tra. Trong trường hợp vụ án được thụ lý ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

b) Đối với tội nghiêm trọng thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trong trường hợp vụ án được thụ lý ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

c) Đối với tội rất nghiêm trọng thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

d) Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.

4. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp trung ương thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.

5. Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết, nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án không thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá bốn tháng.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm.

6. Khi đã hết thời hạn gia hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
8. Điều 98 về thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 98. Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại

1. Trong trường hợp phục hồi điều tra quy định tại Điều 140 Bộ luật này thì thời hạn điều tra tiếp không quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi có quyết định phục hồi điều tra cho đến khi kết thúc điều tra.

Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn điều tra, cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát gia hạn điều tra. Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng;

b) Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng được gia hạn điều tra một lần không quá ba tháng.

Thẩm quyền gia hạn điều tra đối với từng loại tội theo quy định tại khoản 3 Điều 97 Bộ luật này.

2. Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá hai tháng; nếu do Toà án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá một tháng. Viện kiểm sát hoặc Toà án chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần. Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra.

3. Trong trường hợp vụ án được trả lại để điều tra lại thì thời hạn điều tra và gia hạn điều tra theo thủ tục chung.

Thời hạn điều tra được tính từ khi cơ quan điều tra nhận hồ sơ và yêu cầu điều tra lại.

4. Khi phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại, cơ quan điều tra có quyền áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi điều tra, để điều tra bổ sung không được quá thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Thời hạn tạm giam và gia hạn tạm giam trong trường hợp vụ án được điều tra lại theo thủ tục chung quy định tại Điều 71 Bộ luật này."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
9. Khoản 1 ... Điều 142 về quyết định của Viện kiểm sát sau khi kết thúc điều tra được sửa đổi, bổ sung như sau:

". Trong thời hạn không quá hai mươi ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, không quá ba mươi ngày đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng;

b) Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thêm, nhưng không quá mười ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội đặc biệt nghiêm trọng.

Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can và người bào chữa biết những quyết định nói trên. Bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án phải được giao cho bị can. Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép những điều cần thiết và đề xuất yêu cầu.

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
11. Khoản 2 Điều 151 về thời hạn chuẩn bị xét xử được sửa đổi, bổ sung như sau:

"2. Trong thời hạn không quá ba mươi ngày đối với tội ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội nghiêm trọng, hai tháng đối với tội rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, thẩm phán phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Toà án có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá mười lăm ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, không quá ba mươi ngày đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng.

Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, phải mở phiên toà trong thời hạn mười lăm ngày; trong trường hợp có lý do chính đáng thì có thể mở phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày.

Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn mười lăm ngày sau khi nhận lại hồ sơ, thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
12. Khoản 1 Điều 226 về những bản án và quyết định được thi hành được sửa đổi như sau:

"1. Những bản án và quyết định được thi hành là những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm:

a) Những bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm;

b) Những bản án và quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;

c) Những quyết định của Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
13. Các khoản 1... Điều 227 về cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Toà án được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Cơ quan Công an thi hành án trục xuất, phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia Hội đồng thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 229 Bộ luật này."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
13. Các khoản ... 5 ... Điều 227 về cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Toà án được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
"5. Cơ quan thi hành án dân sự thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản. Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giúp chấp hành viên trong việc thi hành án. Nếu cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì cơ quan Công an và các cơ quan hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp."

Xem nội dung VB
- Về bảo vệ cưỡng chế thi hành án theo Khoản này được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 07-89/TTLN năm 1989 (VB hết hiệu lực: 17/09/1993)

Để thực hiện khoản 5 Điều 227 Bộ Luật tố tụng hình sự, Điều 6 Pháp lệnh thi hành án dân sự và Điều 7 Pháp lệnh lực lượng cảnh sát nhân dân.

Sau khi trao đổi thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp;

Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ hướng dẫn một số vấn đề về cưỡng chế thi hành án như sau:

I. BẢO VỆ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN

1. Nếu thấy cần phải có sự hỗ trợ, bảo vệ trật tự khi tiến hành biện pháp cưỡng chế thi hành án như kê biên tài sản, định giá tài sản, bán đấu giá tài sản, cưỡng chế giao đồ vật... thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan công an cấp huyện và công an xã, phường, thị trấn nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án biết thời gian, địa điểm tiến hành, đối tượng sẽ bị cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế, tình huống có thể xảy ra và yêu cầu số lượng cảnh sát bảo vệ. Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tiến hành cưỡng chế thi hành án để tham gia chứng kiến hoặc phối hợp, giúp đỡ khi cần thiết. Nếu chấp hành viên thấy có khả năng là đối tượng bị cưỡng chế sẽ chống đối quyết liệt thì cần đề nghị Chánh án Tòa án họp với Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan công an cùng cấp và đại diện Uỷ ban nhân dân địa phương để thống nhất phương án bảo vệ trật tự khi cưỡng chế thi hành án.

Thông báo cưỡng chế thi hành án hoặc buổi họp bàn về bảo vệ trật tự khi cưỡng chế thi hành án cần được tiến hành trước ngày cưỡng chế thi hành án ít nhất là ba ngày. Nếu chấp hành viên thấy cần phải kê biên tài sản ngay thì không nhất thiết phải thông báo trước ba ngày.

2. Theo thông báo cưỡng chế thi hành án đã nhận được, thủ trưởng cơ quan công an có trách nhiệm cử ít nhất 2 cán bộ, chiến sĩ cảnh sát làm nhiệm vụ hỗ trợ và bảo vệ trật tự khi chấp hành viên tiến hành cưỡng chế thi hành án.

Đối với những trường hợp phức tạp mà Tòa án đã họp bàn với cơ quan công an thì cơ quan công an có trách nhiệm bố trí đủ lực lượng và phương tiện để đảm bảo cho việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án đạt kết quả tốt.

Cán bộ, chiến sĩ cảnh sát được phân công hỗ trợ chấp hành viên trong việc cưỡng chế thi hành án phải có mặt đúng thời gian địa điểm để làm nhiệm vụ và trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình phải chấp hành đầy đủ các yêu cầu của chấp hành viên trong quá trình cưỡng chế thi hành án.

Chấp hành viên có trách nhiệm phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, chiến sĩ cảnh sát thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

II. XỬ LÝ NHỮNG HÀNH VI CẢN TRỞ, CHỐNG ĐỐI VIỆC CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN

Trong quá trình cưỡng chế thi hành án, nếu có những hành vi cản trở, chống đối thì lực lượng cảnh sát nhân dân có trách nhiệm tự mình hoặc theo yêu cầu của chấp hành viên, áp dụng biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để ngăn chặn ngay những hành vi đó. Nếu là phạm tội quả tang thì cảnh sát nhân dân phải bắt ngay người đang thực hiện tội phạm trong khi cưỡng chế thi hành án, hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt; và lập biên bản, giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định tại điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với những trường hợp khác, thì tuỳ theo mức độ vi phạm, chấp hành viên có thể lập biên bản và đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý theo pháp luật.

Tòa án nhân dân và cơ quan công an các cấp ở địa phương cần tổ chức cho các chấp hành viên và đơn vị hữu quan nghiên cứu Thông tư này. Tòa án nhân dân các cấp thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Tòa án nhân dân cấp huyện thông báo cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn biết để phối hợp thực hiện.

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Về bảo vệ cưỡng chế thi hành án theo Khoản này được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 07-89/TTLN năm 1989 (VB hết hiệu lực: 17/09/1993)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
13. Các khoản ... 6 Điều 227 về cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Toà án được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
"6. Việc thi hành bản án và quyết định của Toà án quân sự do các tổ chức trong Quân đội đảm nhiệm, trừ hình phạt trục xuất."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
14. Khoản 1... Điều 229 về thi hành hình phạt tử hình được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành án tử hình gồm đại diện Toà án, Viện kiểm sát và Công an. Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án trước khi thi hành án.

Trong trường hợp người bị kết án là phụ nữ thì trước khi ra quyết định thi hành án, Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm phải tổ chức kiểm tra các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình được quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự. Nếu có căn cứ người bị kết án có điều kiện quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự thì Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án và báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án.

Trước khi thi hành án đối với người bị kết án là phụ nữ thì Hội đồng thi hành án ngoài việc kiểm tra căn cước, phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình được quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự.

Trong trường hợp Hội đồng thi hành án phát hiện người bị kết án có điều kiện quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự thì Hội đồng thi hành án hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
14. ... khoản 5 Điều 229 về thi hành hình phạt tử hình được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
"5. Trong trường hợp có tình tiết đặc biệt, Hội đồng thi hành án hoãn thi hành và báo cáo Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
15. Điều 231 về hoãn thi hành án phạt tù được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 231. Hoãn thi hành án phạt tù

Đối với người bị xử phạt tù đang được tại ngoại, Chánh án Toà án có thể tự mình hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát, cơ quan Công an hoặc người bị kết án cho hoãn chấp hành hình phạt tù trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật hình sự."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 16 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
16. Điều 234 về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ và cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội được sửa đổi như sau:

"Điều 234. Thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ

Người bị kết án phạt tù được hưởng án treo và người bị kết án cải tạo không giam giữ được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc để giám sát, giáo dục."

Xem nội dung VB
- Việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được hướng dẫn bởi Nghị định 61/2000/NĐ-CP

Để thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 của Bộ Luật Hình sự và các điều 227, 234, 237 và 238 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
...
Chương 1:NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
...
Chương 2:

NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
Chương 3:

TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁM SÁT, GIÁO DỤC NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
Chương 4:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
...

Xem nội dung VB
- Việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ được hướng dẫn bởi Nghị định 60/2000/NĐ-CP

Để thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại các điều 31, 58, 59, 73 và 76 của Bộ Luật Hình sự và các điều 227, 234, 237 và 238 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự;
...
Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1
...
Điều 2.
...
Điều 3. Cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục nói trong Nghị định này là:
...
Chương 2: NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN

Điều 4. Người bị kết án có nghĩa vụ:
...
Điều 5.
...
Điều 6. Người bị kết án có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực nơi mình làm việc hoặc cư trú xem xét việc giảm thời gian chấp hành hình phạt khi đã chấp hành được một phần ba thời hạn cải tạo không giam giữ và có nhiều tiến bộ hoặc lập công, quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.
...
Chương 3: TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁM SÁT, GIÁO DỤC NGƯỜI BỊ KẾT ÁN

Điều 7.
...
Điều 8.
...
Điều 9. Người trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án có trách nhiệm và quyền:
...
Điều 10. Hồ sơ theo dõi việc chấp hành hình phạt của người bị kết án gồm:
...
Điều 11. Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt chuyển đi nơi khác, thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm thông báo ngay cho Toà án đã ra quyết định thi hành án kèm theo hồ sơ của người đó để Toà án làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục.
...
Điều 12. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm:
...
Chương 4: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 13. Người nào vi phạm các quy định của Nghị định này, tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Nghị định số 95/HĐBT ngày 25 tháng 7 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế về chế độ cải tạo không giam giữ và cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội.

Điều 15. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 16 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được hướng dẫn bởi Nghị định 61/2000/NĐ-CP
Việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ được hướng dẫn bởi Nghị định 60/2000/NĐ-CP
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 18 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
18. Điều 236 về thi hành hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 236. Thi hành hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản

Quyết định đưa bản án phạt tiền hoặc tịch thu tài sản ra thi hành phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, chấp hành viên, người bị kết án và chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú.

Việc tịch thu tài sản được tiến hành theo quy định tại Điều 40 Bộ luật hình sự."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 18 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 19 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
19. Khoản 1 Điều 237 về điều kiện để được giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Người đang chấp hành hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú hoặc quản chế có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt theo quy định tại các điều 57, 58, 59 và 76 Bộ luật hình sự; nếu họ chưa chấp hành hình phạt thì có thể được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 57 Bộ luật hình sự.

Người đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại theo quy định tại khoản 4 Điều 57 Bộ luật hình sự.

Người đã chấp hành được một phần hình phạt tiền có thể được miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật hình sự."

Xem nội dung VB
- Điều kiện giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 1, Điều 6 Nghị định 60/2000/NĐ-CP

Để thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại các điều 31, 58, 59, 73 và 76 của Bộ Luật Hình sự và các điều 227, 234, 237 và 238 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự;
...
Điều 1
...
2. Người bị kết án phải chấp hành hình phạt dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục và gia đình người đó.

Khi người bị kết án đã chấp hành được một phần ba thời hạn cải tạo không giam giữ và có nhiều tiến bộ hoặc lập công, mắc bệnh hiểm nghèo thì có thể được Tòa án xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại các điều 58, 59 và 76 Bộ Luật Hình sự.
...
Điều 6. Người bị kết án có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực nơi mình làm việc hoặc cư trú xem xét việc giảm thời gian chấp hành hình phạt khi đã chấp hành được một phần ba thời hạn cải tạo không giam giữ và có nhiều tiến bộ hoặc lập công, quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.

Người bị kết án là người chưa thành niên đã chấp hành được một phần tư thời hạn cải tạo không giam giữ thì được xét giảm hình phạt. Trong trường hợp người chưa thành niên lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì được cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục đề nghị Tòa án cấp huyện nơi người đó cư trú xét giảm thời gian chấp hành hình phạt ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 19 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Điều kiện giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 1, Điều 6 Nghị định 60/2000/NĐ-CP
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 20 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
20. Khoản 1 ... Điều 238 về thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Toà án có thẩm quyền quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu, nơi người bị kết án chấp hành hình phạt.

Toà án có thẩm quyền quyết định miễn chấp hành hình phạt tù là Toà án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc.

Việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành các hình phạt khác hoặc giảm thời gian thử thách thuộc thẩm quyền quyết định của Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực, nơi người bị kết án chấp hành hình phạt hoặc chịu thử thách.

Xem nội dung VB
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 18 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
18- Khoản 1 Điều 238 về thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Toà án có thẩm quyền quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu, nơi người bị kết án chấp hành hình phạt.

Toà án có thẩm quyền quyết định miễn chấp hành hình phạt tù, hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội là Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu, nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc.

Việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành các hình phạt khác hoặc giảm thời gian thử thách thuộc thẩm quyền quyết định của Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực, nơi người bị kết án chấp hành hình phạt hoặc chịu thử thách."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 20 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 18 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 20 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
20. ... khoản 2 Điều 238 về thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
2. Hồ sơ đề nghị xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, miễn chấp hành toàn bộ hoặc phần hình phạt tù còn lại, miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại phải có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp.

Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù phải có đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù.

Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ phải có đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao nhiệm vụ trực tiếp giám sát, giáo dục.

Hồ sơ đề nghị xét giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt khác hoặc rút ngắn thời gian thử thách của án treo phải có đề nghị hoặc nhận xét của cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành án quy định tại Điều 227 Bộ luật này."

Xem nội dung VB
- Việc tổ chức xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù được hướng dẫn bởi Thông tư 01-BNV(V26) năm 1991

Để thi hành đúng Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ Nội vụ hướng dẫn việc tổ chức xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho phạn nhân như sau:
...
1. Phải quán triệt nội dung Thông tư liên ngành số 04/ 89 ngày 15 tháng 8 năm 1989.
...
2. Tổ chức Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
...
3. Thủ tục đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
...
4. Về hồ sơ đề giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Xem nội dung VB
- Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 7 Nghị định 60/2000/NĐ-CP

Để thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại các điều 31, 58, 59, 73 và 76 của Bộ Luật Hình sự và các điều 227, 234, 237 và 238 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự;
...
Điều 7.
...
2. Khi đề nghị Toà án xem xét việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt còn lại quy định tại khoản 1 điểm e Điều này, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án phải gửi kèm theo hồ sơ.

Hồ sơ đề nghị gồm có:

a) Bản đề nghị của cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục về việc xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cho người bị kết án;

b) Sổ theo dõi người bị kết án;

c) Trích lục bản án và quyết định thi hành án của Toà án;

d) Đơn xin rút ngắn thời gian thử thách của người bị kết án (nếu họ có đề nghị);

đ) Bản tự kiểm điểm của người bị kết án;

e) Biên bản cuộc họp kiểm điểm người bị kết án.

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 20 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Việc tổ chức xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù được hướng dẫn bởi Thông tư 01-BNV(V26) năm 1991
Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 7 Nghị định 60/2000/NĐ-CP
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 21 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
21. Điều 273 về bắt, tạm giữ, tạm giam được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 273. Bắt, tạm giữ, tạm giam

1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 62, 63, 64, 68 và 71 Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 62, 63, 64, 68 và 71 Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 21 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 22 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
22. Điều 279 về chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp và giảm thời hạn chấp hành hình phạt được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 279. Chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp, giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt

Người chưa thành niên bị kết án có thể được chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp, giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 hoặc Điều 76 Bộ luật hình sự."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 22 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

a) Thay chữ số "Điều 242" tại khoản 3 Điều 39, khoản 4 Điều 43, khoản 3 Điều 44 bằng chữ số "Điều 308";

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

a) Thay chữ số "Điều 242" tại khoản 3 Điều 39, khoản 4 Điều 43, khoản 3 Điều 44 bằng chữ số "Điều 308";

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
b) Thay chữ số "Điều 241" tại khoản 4 Điều 43, khoản 3 Điều 44, khoản 2 Điều 45 bằng chữ số "Điều 307";

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
b) Thay chữ số "Điều 241" tại khoản 4 Điều 43, khoản 3 Điều 44, khoản 2 Điều 45 bằng chữ số "Điều 307";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Điểm c Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
c) Thay chữ số "Điều 236" tại khoản 3 Điều 57 bằng chữ số "Điều 300";

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Điểm c Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm d Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
d) Thay các chữ số "Điều 246", "Điều 247" tại Điều 95 bằng các chữ số "Điều 313", "Điều 314";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm d Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm d Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
d) Thay các chữ số "Điều 246", "Điều 247" tại Điều 95 bằng các chữ số "Điều 313", "Điều 314";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm d Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
đ) Thay các chữ số "điều 92, 93, 222, 223, 262, 263" tại Điều 101 bằng các chữ số "điều 263, 264, 286, 287, 327, 328";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm e Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
e) Thay các chữ số "Điều 234", "Điều 235" tại khoản 3 Điều 107 bằng các chữ số "Điều 298", "Điều 299";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm e Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm e Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
e) Thay các chữ số "Điều 234", "Điều 235" tại khoản 3 Điều 107 bằng các chữ số "Điều 298", "Điều 299";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm e Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm g Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
g) Thay chữ số "Điều 244" tại khoản 2 Điều 121, Điều 122 bằng chữ số "Điều 310";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm g Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm g Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
g) Thay chữ số "Điều 244" tại khoản 2 Điều 121, Điều 122 bằng chữ số "Điều 310";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm g Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm h Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
h) Thay các chữ số "Đoạn 1 khoản 1 Điều 48" tại khoản 3 Điều 139 bằng các chữ số "khoản 1 và khoản 3 Điều 25";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm h Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm l Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
l) Thay chữ số "Điều 44" tại khoản 2 Điều 237 bằng chữ số "Điều 60" ;

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm l Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm m Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
m) Thay chữ số "Điều 53" tại Điều 239 bằng chữ số "Điều 64";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm m Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm n Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
n) Thay các chữ số "Điều 54", "Điều 55" tại khoản 1 Điều 240 bằng các chữ số "Điều 65", "Điều 66";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm n Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm n Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
n) Thay các chữ số "Điều 54", "Điều 55" tại khoản 1 Điều 240 bằng các chữ số "Điều 65", "Điều 66";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm n Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm o Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
o) Thay chữ số "Điều 45" tại khoản 1 Điều 265 bằng chữ số "Điều 23";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm o Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm p Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
p) Thay chữ số "Điều 60" tại khoản 2 Điều 277 bằng chữ số "Điều 70";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm p Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm q Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
q) Thay chữ số "Điều 67" tại Điều 280 bằng chữ số "Điều 77";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm q Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được thay thế bởi Điểm r Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Sửa đổi chữ số các điều, khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
...
r) Thay chữ số "Điều 12" tại khoản 1 Điều 281 bằng chữ số "Điều 13".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được thay thế bởi Điểm r Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

a) Cụm từ "tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia" tại Điều 36 được thay bằng cụm từ "tội xâm phạm an ninh quốc gia";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
b) Cụm từ "Hội đồng Bộ trưởng" tại Điều 72 được thay bằng cụm từ "Chính phủ";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm c Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
c) Cụm từ "Hội đồng Nhà nước" tại Điều 92 và Điều 93 được thay bằng cụm từ "Uỷ ban thường vụ Quốc hội";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm c Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm c Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
c) Cụm từ "Hội đồng Nhà nước" tại Điều 92 và Điều 93 được thay bằng cụm từ "Uỷ ban thường vụ Quốc hội";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm c Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
d) Cụm từ "Hội đồng Nhà nước" tại Điều 228 và Điều 229 được thay bằng cụm từ "Chủ tịch nước";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
d) Cụm từ "Hội đồng Nhà nước" tại Điều 228 và Điều 229 được thay bằng cụm từ "Chủ tịch nước";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
d) Cụm từ "Hội đồng Nhà nước" tại Điều 228 và Điều 229 được thay bằng cụm từ "Chủ tịch nước";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
đ) Cụm từ "Toà án quân sự cấp cao" tại các điều 146, 215, 244, 248, 250 và 266 được thay bằng cụm từ "Toà án quân sự trung ương";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
đ) Cụm từ "Toà án quân sự cấp cao" tại các điều 146, 215, 244, 248, 250 và 266 được thay bằng cụm từ "Toà án quân sự trung ương";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
đ) Cụm từ "Toà án quân sự cấp cao" tại các điều 146, 215, 244, 248, 250 và 266 được thay bằng cụm từ "Toà án quân sự trung ương";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
đ) Cụm từ "Toà án quân sự cấp cao" tại các điều 146, 215, 244, 248, 250 và 266 được thay bằng cụm từ "Toà án quân sự trung ương";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
đ) Cụm từ "Toà án quân sự cấp cao" tại các điều 146, 215, 244, 248, 250 và 266 được thay bằng cụm từ "Toà án quân sự trung ương";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
đ) Cụm từ "Toà án quân sự cấp cao" tại các điều 146, 215, 244, 248, 250 và 266 được thay bằng cụm từ "Toà án quân sự trung ương";

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Tiêu đề chương này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Tiêu đề chương này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ "xóa án" trong tiêu đề điều này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ "xóa án" trong tiêu đề điều này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ "xóa án" trong tiêu đề điều này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ "xóa án" trong tiêu đề điều này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ "xóa án" trong tiêu đề điều này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ "xóa án" trong tiêu đề điều này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2

Sửa đổi các chữ số và cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
2. Sửa đổi các cụm từ của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
e) Cụm từ "Xoá án" tại tên Chương XXVIII, tên các điều 239, 240, 280 và tại các điều 239, 240, 280 được thay bằng cụm từ "Xoá án tích".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Thủ tục cho những người tham gia tố tụng xem biên bản phiên tòa được hướng dẫn bởi Công văn 93/HS năm 1989

Một số Tòa án hỏi Tòa án nhân dân tối cao về thủ tục cho những người tham gia tố tụng xem biên bản phiên tòa, Tòa án nhân dân tối cao trả lời vấn đề này như sau:

Điều 174 Bộ luật tố tụng hình sự về biên bản phiên tòa có quy định rằng “Bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của những người đó, được xem biên bản phiên tòa, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận”.

Cần hiểu rằng đây là quyền của những người tham gia tố tụng nói trên được xem biên bản phiên tòa sau khi đã kết thúc phiên tòa, chứ không phải là trong quá trình tiến hành phiên tòa; cho nên, nếu tại phiên tòa mà họ xin được xem biên bản phiên tòa, thì Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu đó của họ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử có thể chỉ chấp nhận yêu cầu của người tham gia tố tụng được nghe lại một lời khai nào đó, một tài liệu nào đó đã được ghi vào biên bản phiên tòa.

Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa cần tranh thủ kiểm tra ngay biên bản phiên tòa và cùng với thư ký phiên tòa ký tên vào biên bản đó.

Sau khi chủ tọa phiên tòa và thư ký phiên tòa đã ký tên để xác nhận biên bản phiên tòa, nếu có yêu cầu được xem biên bản phiên tòa, thì Tòa án tạo điều kiện cho người có yêu cầu sớm được xem biên bản đó, chậm nhất là trong thời gian 15 ngày sau khi tuyên án.

Người tham gia tố tụng có thể tự đến trụ sở của Tòa án thì được xem biên bản phiên tòa tại trụ sở của Tòa án dưới sự giám sát của cán bộ Tòa án, tốt nhất là của thư ký đã ghi biên bản phiên tòa.

Đối với bị cáo đang bị giam giữ, Tòa án có thể cho họ xem biên bản phiên tòa tại trại giam hoặc đề nghị trại giam dẫn giải họ đến trụ sở của Tòa án để Tòa án cho họ xem biên bản phiên tòa.

Sau khi người được xem biên bản phiên tòa đã xem xong biên bản đó, cần lập biên bản với nội dung là họ đã yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung gì vào biên bản phiên tòa, nếu họ không có yêu cầu gì thì cũng phản ánh vào biên bản.

Trong phần thứ tư của Bộ luật tố tụng hình sự về xét xử phúc thẩm không có điều khoản nào quy định về việc cho xem biên bản phiên tòa như quy định về việc cho xem biên bản phiên tòa sơ thẩm, nhưng Tòa án có thể giải quyết cho xem biên bản phiên tòa phúc thẩm như cho xem biên bản phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên, đối với bị cáo bị giam giữ ở trại giam xa trụ sở của Tòa án, thì không nhất thiết phải tổ chức cho họ xem biên bản phiên tòa phúc thẩm.

Xem nội dung VB
Thủ tục cho những người tham gia tố tụng xem biên bản phiên tòa được hướng dẫn bởi Công văn 93/HS năm 1989
- Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 37/NCPL năm 1989

Tòa án nhân dân tối cao trả lời công văn số 184 ngày 15-2-1989 của Tòa án nhân dân tỉnh Thuận Hải hỏi về thủ tục thi hành án tử hình quy định tại khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

Khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Bản án tử hình được thi hành nếu không có kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm”.

Khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Trước khi thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nếu người bị kết án đã có đơn xin ân giảm án tử hình thì giao cho họ đọc bản sao quyết định của Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm”.

Căn cứ các điều khoản nói trên của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án cần phân biệt 2 trường hợp:

1. Nếu người bị kết án không có đơn xin Hội đồng Nhà nước ân giảm án tử hình, thì bản án tử hình được thi hành khi có quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Nếu người bị kết án có đơn xin ân giảm án tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm. Đối với trường hợp này, trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án và bản sao quyết định của Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm của họ, không cần phải có quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 37/NCPL năm 1989
- Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 37/NCPL năm 1989

Tòa án nhân dân tối cao trả lời công văn số 184 ngày 15-2-1989 của Tòa án nhân dân tỉnh Thuận Hải hỏi về thủ tục thi hành án tử hình quy định tại khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

Khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Bản án tử hình được thi hành nếu không có kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm”.

Khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Trước khi thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nếu người bị kết án đã có đơn xin ân giảm án tử hình thì giao cho họ đọc bản sao quyết định của Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm”.

Căn cứ các điều khoản nói trên của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án cần phân biệt 2 trường hợp:

1. Nếu người bị kết án không có đơn xin Hội đồng Nhà nước ân giảm án tử hình, thì bản án tử hình được thi hành khi có quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Nếu người bị kết án có đơn xin ân giảm án tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm. Đối với trường hợp này, trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án và bản sao quyết định của Hội đồng Nhà nước bác đơn xin ân giảm của họ, không cần phải có quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 37/NCPL năm 1989
- Việc ghi họ và tên hội thẩm nhân dân trong quyết định đưa vụ án ra xét xử được hướng dẫn bởi Công văn 38/NCPL năm 1989

Một số Tòa án có hỏi Tòa án nhân dân tối cao về việc phải ghi họ và tên hội thẩm nhân dân trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Về vấn đề này Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau: Theo Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự thì sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, phải mở phiên tòa trong thời hạn 15 ngày. Theo điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ họ và tên hội thẩm nhân dân. Qua các quy định này chúng ta có thể thấy là Bộ luật tố tụng hình sự muốn nhấn mạnh việc dành thời gian cần thiết cho hội thẩm nhân dân nghiên cứu hồ sơ vụ án để chuẩn bị cho việc tham gia xét xử tại phiên tòa một cách thiết thực.

Theo Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự thì quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa. Theo tinh thần của quy định này thì khi biết rõ ai sẽ là hội thẩm nhân dân tại phiên tòa bị cáo có thể sử dụng quyền được đề nghị thay đổi hội thẩm nhân dân (Điều 28 và điều 34 BLTTHS), và nếu đề nghị đó được chấp nhận thì Tòa án kịp thời thay thế bằng hội thẩm nhân dân khác trước ngày xét xử đã định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử để khỏi phải hoãn phiên tòa.

Nếu phải thay đổi hội thẩm nhân dân trước khi mở phiên tòa vì đề nghị thay đổi hội thẩm nhân dân được chấp nhận hoặc vì lý do nào đó mà hội thẩm nhân dân không tham gia được phiên tòa vào ngày đã định, thì Tòa án mời hội thẩm nhân dân khác tham gia phiên tòa và thông báo ngay về sự thay đổi đó cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó mà chỉ khi mở phiên tòa rồi bị cáo mới được biết họ và tên hội thẩm nhân dân mới do có sự thay đổi hội thẩm nhân dân, thì việc này cũng không phải là lý do buộc Tòa án phải hoãn xét xử, phiên tòa vẫn được tiến hành bình thường và bị cáo vẫn có quyền đề nghị thay đổi hội thẩm nhân dân mới đó giống như trường hợp tại phiên tòa bị cáo mới đề nghị thay đổi hội thẩm nhân dân.

Nếu có hội thẩm nhân dân dự bị thì họ và tên hội thẩm nhân dân dự bị cũng cần ghi rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Xem nội dung VB
Việc ghi họ và tên hội thẩm nhân dân trong quyết định đưa vụ án ra xét xử được hướng dẫn bởi Công văn 38/NCPL năm 1989
- Điểm này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Công văn 328/NCPL năm 1993

Trong thời gian vừa qua, Toà án nhân dân tối cao đã nhận được nhiều công văn của các Toà án nhân dân và toà án quân sự các cấp yêu cầu hướng dẫn thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về vấn đề kiểm sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố tại phiên toà, cụ thể là trong trường hợp nào được coi là Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố và trong trường hợp nào được coi là kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố. Toà án nhân dân tối cao đã có công văn số 294/NCPL ngày 31-5-1993 gửi Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi ý kiến về vấn đề nói trên. Căn cứ vào sự thống nhất ý kiến với ý kiến của Toà án nhân dân tối cao tại công văn số 869/VKH ngày 14-6-1993 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về vấn đề kiểm sát viên rút quyết định truy tố tại phiên toà như sau:

1. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự, thì quyết định truy tố của Viện Kiểm sát chính là bản cáo trạng mà kiểm sát viên đọc tại phiên toà; do đó, chỉ khi nào Kiểm sát viên rút toàn bộ bản cáo trạng mới được coi là rút toàn bộ quyết định truy tố. Trong trường hợp này, theo quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại điểm 2 mục III Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự", thì: "... trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng (như người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự...) trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát có hay không có căn cứ. Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội, thì Hội đồng xét xử tuyên án bị cáo không phạm tội. Ngược lại nếu có căn cứ xác định là bị cáo có tội thì Hội đồng xét xử quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát cấp dưới. Toà án xoá sổ thụ lý và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát cấp trên (cấp trên trực tiếp của Viện Kiểm sát cùng cấp). Qua nghiên cứu hồ sơ và kiến nghị của Toà án nếu Viện Kiểm sát cấp trên thống nhất với việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án đã tạm đình chỉ vụ án đó biết. Nếu Viện Kiểm sát cấp trên nhất trí với kiến nghị của Toà án thì ra quyết định huỷ việc rút quyết định truy tố của Viện Kiểm sát cấp dưới và chuyển hồ sơ cho toà án đã tạm đình chỉ vụ án. Toà án thụ lý lại và xét xử trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý lại".

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Công văn 328/NCPL năm 1993
- Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 20/NCPL năm 1994

Khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản có nói rõ lý do. Kháng nghị được gửi đến Toà án đã xử sơ thẩm". Như vậy theo quy định này thì Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị bằng văn bản, trong đó phải nêu rõ: ngày kháng nghị, kháng nghị về vấn đề gì trong bản án hoặc quyết định sơ thẩm; lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát, cũng theo quy định này thì Viện kiểm sát chỉ có trách nhiệm gửi bản kháng nghị đến Toà án đã xử sơ thẩm mà không có trách nhiệm thông báo việc kháng nghị hay gửi bản sao bản kháng nghị cho những người tham gia tố tụng nói chung và người bị kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị nói riêng.

Theo quy định tại Điều 210 Bộ Luật tố tụng hình sự thì toà án đã xử sơ thẩm sau khi nhận được bản kháng nghị, phải có trách nhiệm thông báo cho những người tham gia tố tụng biết, để cho những người này biết diễn biến của quá trình tố tụng và chuẩn bị ý kiến của mình hoặc tài liệu, chứng cứ mới có liên quan đến việc xét xử vụ án để gửi cho Toà án cấp phúc thẩm. Việc thông báo của Toà án cấp sơ thẩm có thể được thực hiện bằng việc gửi bản thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị theo mẫu do Toà án nhân dân tối cao ban hành, trong đó cần ghi rõ nội dung kháng nghị hoặc cũng có thể bằng việc gửi bản sao bản kháng nghị của Viện kiểm sát.

Đối với trường hợp tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo bị kháng nghị khai rằng chưa được nhận bản sao bản kháng nghị của Viện kiểm sát, nhưng đã được thông báo về việc kháng nghị thì Toà án cấp phúc thẩm có quyền tiếp tục xét xử vụ án. Nếu bị cáo bị kháng nghị chưa được nhận bản sao bản kháng nghị của Viện kiểm sát và cũng chưa được thông báo về việc kháng nghị, thì Toà án cấp phúc thẩm cần hỏi bị cáo đề nghị hoãn phiên toà hay không. Nếu bị cáo có yêu cầu hoãn phiên toà thì Toà án cấp phúc thẩm cần chấp nhận yêu cầu của bị cáo hoãn phiên toà và thông báo luôn cho bị cáo biết việc kháng nghị của Viện kiểm sát.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 20/NCPL năm 1994
- Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 20/NCPL năm 1994

Khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản có nói rõ lý do. Kháng nghị được gửi đến Toà án đã xử sơ thẩm". Như vậy theo quy định này thì Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị bằng văn bản, trong đó phải nêu rõ: ngày kháng nghị, kháng nghị về vấn đề gì trong bản án hoặc quyết định sơ thẩm; lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát, cũng theo quy định này thì Viện kiểm sát chỉ có trách nhiệm gửi bản kháng nghị đến Toà án đã xử sơ thẩm mà không có trách nhiệm thông báo việc kháng nghị hay gửi bản sao bản kháng nghị cho những người tham gia tố tụng nói chung và người bị kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị nói riêng.

Theo quy định tại Điều 210 Bộ Luật tố tụng hình sự thì toà án đã xử sơ thẩm sau khi nhận được bản kháng nghị, phải có trách nhiệm thông báo cho những người tham gia tố tụng biết, để cho những người này biết diễn biến của quá trình tố tụng và chuẩn bị ý kiến của mình hoặc tài liệu, chứng cứ mới có liên quan đến việc xét xử vụ án để gửi cho Toà án cấp phúc thẩm. Việc thông báo của Toà án cấp sơ thẩm có thể được thực hiện bằng việc gửi bản thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị theo mẫu do Toà án nhân dân tối cao ban hành, trong đó cần ghi rõ nội dung kháng nghị hoặc cũng có thể bằng việc gửi bản sao bản kháng nghị của Viện kiểm sát.

Đối với trường hợp tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo bị kháng nghị khai rằng chưa được nhận bản sao bản kháng nghị của Viện kiểm sát, nhưng đã được thông báo về việc kháng nghị thì Toà án cấp phúc thẩm có quyền tiếp tục xét xử vụ án. Nếu bị cáo bị kháng nghị chưa được nhận bản sao bản kháng nghị của Viện kiểm sát và cũng chưa được thông báo về việc kháng nghị, thì Toà án cấp phúc thẩm cần hỏi bị cáo đề nghị hoãn phiên toà hay không. Nếu bị cáo có yêu cầu hoãn phiên toà thì Toà án cấp phúc thẩm cần chấp nhận yêu cầu của bị cáo hoãn phiên toà và thông báo luôn cho bị cáo biết việc kháng nghị của Viện kiểm sát.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 20/NCPL năm 1994
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Công văn 52/1999/KHXX năm 1999

Thông qua công tác giám đốc, thanh tra cũng như thông qua báo cáo công tác xét xử của một số Toà án, Toà án nhân dân tối cao thấy rằng trong thời gian qua một số Toà án khi xét xử, đặc biệt là khi xét xử sơ thẩm đã không thực hiện đúng một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo là người chưa thành niên, như việc yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị cáo, thành phần Hội đồng xét xử. Để thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tránh việc bản án bị huỷ do có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp một số điểm sau đây:

1. Khi xét xử mà bị cáo là người chưa thành niên, nếu bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, thì Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ. Nếu Toà án đã có yêu cầu và Đoàn luật sư đã cử người bào chữa cho bị cáo, thì cần phân biệt như sau:

- Trong trường hợp người bào chữa có mặt mà bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ, không có yêu cầu thay đổi hoặc từ chối bào chữa, thì Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

- Trong trường hợp người bào chữa có mặt mà bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu thay đổi người bào chữa, thì Toà án căn cứ vào các khoản 2 và 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự để chấp nhận hoặc không chấp nhận. Trong trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu thay đổi người bào chữa, thì phải hoãn phiên toà. Trong trường hợp Toà án không chấp nhận yêu cầu thay đổi người bào chữa, thì tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

- Trong trường hợp người bào chữa có mặt (hoặc vắng mặt) mà bị cáo từ chối người bào chữa, thì Toà án lập biên bản về việc bị cáo từ chối người bào chữa. Trong biên bản này phải có chữ ký của bị cáo. Sau khi lập biên bản xong, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

- Trong trường hợp người bào chữa vắng mặt tại phiên toà bị cáo không từ chối người bào chữa, thì Toà án căn cứ vào Điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự để hoãn phiên toà.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Công văn 52/1999/KHXX năm 1999
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Công văn 52/1999/KHXX năm 1999

2. Khi xét xử sơ thẩm mà bị cáo là người chưa thành niên, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự "Thành phần Hội đồng xét xử phải có một hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh"; do đó, các Toà án cần phải thực hiện đúng quy định này. Cụ thể là khi phân công Hội đồng xét xử sơ thẩm cần phải xem xét trong danh sách Hội thẩm nhân dân có ai là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh để mời họ tham gia Hội đồng xét xử.

Cần lưu ý là khái niệm "giáo viên" được quy định tại khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự cần được hiểu theo nghĩa rộng của nó, tức là những "nhà giáo" - những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Theo quy định tại Chương III Luật giáo dục, thì nhà trường bao gồm: "Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân (Điều 44); Nhà trường của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, của lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 45) và các loại trường chuyên biệt khác, như: Trường phổ thông dân tộc nội trú, Trường phổ thông dân tộc bán trú, Trường dự bị đại học (Điều 56); Trường chuyên, Trường năng khiếu (Điều 57); Trường, lớp dành cho người tàn tật (Điều 58); Trường giáo dưỡng (Điều 59). Về các cơ sở giáo dục khác, thì theo tinh thần quy định tại Điều 60 Luật giáo dục, đó là các cơ sở giáo dục được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Chính phủ.

Để thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự, các Toà án cần rà soát lại trong danh sách Hội thẩm nhân dân đã có thành phần Hội thẩm nhân dân như trên hay chưa? Nếu chưa có thì cần báo cáo ngay bằng văn bản với Hội đồng nhân dân đề nghị bầu bổ sung thành phần Hội thẩm nhân dân như trên. Trong khi Hội đồng nhân dân chưa bầu bổ sung được, thì cần mời Hội thẩm nhân dân là người có nghề nghiệp, chuyên môn hiểu được tâm sinh lý trẻ em hoặc người đã từng là giáo viên hay đã từng làm cán bộ Đoàn thanh niên công sản Hồ Chí Minh tham gia Hội đồng xét xử.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Công văn 52/1999/KHXX năm 1999
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 17 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
17. Bổ sung Điều 234a về thi hành hình phạt trục xuất

"Điều 234a. Thi hành hình phạt trục xuất

Người bị trục xuất phải rời khỏi Việt Nam trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ khi có quyết định thi hành án. Trong trường hợp người bị phạt trục xuất phải chấp hành các hình phạt khác hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ khác thì thời hạn họ rời khỏi Việt Nam do pháp luật quy định."

Xem nội dung VB
Chương này được bổ sung bởi Khoản 17 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 3 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2: Bổ sung một số điều mới vào Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
3- Điều 160a. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm

Hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm gồm ba thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.

Thẩm phán chủ toạ phiên toà điều khiển và giữ kỷ luật phiên toà.

Xem nội dung VB
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2. Bổ sung một số điều mới như sau:
...
2- "Điều 168a. Thời hạn hoãn phiên toà.

Trong trường hợp phải hoãn phiên toà theo quy định tại các Điều 30, 31, 33, 162, 164, 165, 166, 167 và 168 của Bộ luật này, thì thời hạn hoãn phiên toà sơ thẩm không được quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà."

Xem nội dung VB
Chương này được bổ sung bởi Khoản 3 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
Chương này được bổ sung bởi Khoản 2 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được bổ sung bởi Khoản 19 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
19- Điều 247 về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, được bổ sung khoản 3 mới như sau:

"3. Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự."

Xem nội dung VB
Điều này được bổ sung bởi Khoản 19 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được bổ sung bởi Khoản 20 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
...
20- Điều 265 về thời hạn kháng nghị tái thẩm, được bổ sung khoản 3 mới như sau:

"3. Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự."

Xem nội dung VB
Điều này được bổ sung bởi Khoản 20 Điều 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)

Điều 2. Bổ sung một số điều mới như sau:

1- "Điều 42a. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự.

1. Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận, bảo vệ quyền lợi cho mình.

2. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

3. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền cung cấp chứng cứ, đề đạt yêu cầu; được đọc hồ sơ vụ án, ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra; tham gia phiên toà; khiếu nại các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này.

Đối với đương sự là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, thì người bảo vệ quyền lợi của họ có quyền có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai của người mà mình bảo vệ; có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Toà án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mình bảo vệ.

4. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật của vụ án; giúp đương sự về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ."

Xem nội dung VB
Chương này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/07/2004)
- Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 01-BNV(V26) năm 1991

Việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho phạm nhân là thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội, có tác dụng khuyến khích các phạm nhân ra sức cải tạo tốt. Để thi hành đúng các Điều 49, 51 Bộ luật Hình sự, Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên ngành số 04/ 89 ngày 15 tháng 8 năm 1989, Bộ Nội vụ hướng dẫn việc tổ chức xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho phạn nhân như sau:

1. Phải quán triệt nội dung Thông tư liên ngành số 04/ 89 ngày 15 tháng 8 năm 1989
...
2. Tổ chức Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
...
3. Thủ tục đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
...
4. Về hồ sơ đề giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
...

Xem nội dung VB
- Việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được hướng dẫn bởi Nghị định 61/2000/NĐ-CP

Để thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 của Bộ Luật Hình sự và các điều 227, 234, 237 và 238 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
...
Chương 1:NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
...
Chương 2:

NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
Chương 3:

TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁM SÁT, GIÁO DỤC NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
Chương 4:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
...

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 01-BNV(V26) năm 1991
Việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được hướng dẫn bởi Nghị định 61/2000/NĐ-CP
- Thẩm quyền xét xử của các Toà án Quân sự được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 01/TTLN năm 1994 (VB hết hiệu lực: 10/06/2005)

Để thực hiện đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự (sau đây gọi là Pháp lệnh) về thẩm quyền xét xử của các Toà án quân sự;
...
Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng thống nhất hướng dẫn như sau:

I - VỀ ĐỐI TƯỢNG THUỘC THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ
...
II - VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ CÁC CẤP.
...
III - ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Xem nội dung VB
Thẩm quyền xét xử của các Toà án Quân sự được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 01/TTLN năm 1994 (VB hết hiệu lực: 10/06/2005)
- Việc truy nã bị can, bị cáo trong giai đoạn truy tố và xét xử được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 03/TTLN năm 1995

Tại mục IV Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 12-1-1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đã hướng dẫn về truy nã bị can, bị cáo. Tuy nhiên, sự hướng dẫn đó còn chưa đầy đủ, do đó, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ thống nhất hướng dẫn thực hiện một số quy định về truy nã bị can, bị cáo như sau:

1. Sau khi kết thúc điều tra, hồ sơ vụ án đã được chuyển sang Viện kiểm sát mà bị can bỏ trốn, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm b khoản 2 Điều 143b Bộ luật tố tụng hình sự yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can.
...
2. Trong trường hợp nhận được thông báo của Viện kiểm sát về việc bị can bỏ trốn sau khi đã được giao bản cáo trạng không phân biệt hồ sơ vụ án đã được chuyển giao cho Toà án hay chưa cũng như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu bị can bỏ trốn thì Toà án yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can và vẫn tiến hành các công việc theo thủ tục chung. Khi bắt được bị can, cơ quan điều tra và trại tạm giam cần thực hiện theo đúng thủ tục như đã hướng dẫn tại đoạn 2 điểm 1 Thông tư này. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được thông báo của cơ quan điều tra về kết quả truy nã là đã bắt được bị can, thì Toà án ra ngay quyết định tạm giam đối với bị can.
...
3. Khi nhân được công văn của Viện kiểm sát, của Toà án yêu cầu truy nã bị can, bị cáo, cơ quan điều tra ra ngay quyết định truy nã và thông báo quyết định truy nã theo đúng quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, niêm yết quyết định truy nã tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của bị can, bị cáo và sao gửi cho Viện kiểm sát hoặc Toà án đã yêu cầu truy nã.
...
4. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế các hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ về truy nã bị can, bị cáo.

Xem nội dung VB
Việc truy nã bị can, bị cáo trong giai đoạn truy tố và xét xử được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 03/TTLN năm 1995
- Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 03/TTLN năm 1995

Tại mục IV Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 12-1-1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đã hướng dẫn về truy nã bị can, bị cáo. Tuy nhiên, sự hướng dẫn đó còn chưa đầy đủ, do đó, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ thống nhất hướng dẫn thực hiện một số quy định về truy nã bị can, bị cáo như sau:

1. Sau khi kết thúc điều tra, hồ sơ vụ án đã được chuyển sang Viện kiểm sát mà bị can bỏ trốn, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm b khoản 2 Điều 143b Bộ luật tố tụng hình sự yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can.
...
2. Trong trường hợp nhận được thông báo của Viện kiểm sát về việc bị can bỏ trốn sau khi đã được giao bản cáo trạng không phân biệt hồ sơ vụ án đã được chuyển giao cho Toà án hay chưa cũng như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu bị can bỏ trốn thì Toà án yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can và vẫn tiến hành các công việc theo thủ tục chung. Khi bắt được bị can, cơ quan điều tra và trại tạm giam cần thực hiện theo đúng thủ tục như đã hướng dẫn tại đoạn 2 điểm 1 Thông tư này. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được thông báo của cơ quan điều tra về kết quả truy nã là đã bắt được bị can, thì Toà án ra ngay quyết định tạm giam đối với bị can.
...
3. Khi nhân được công văn của Viện kiểm sát, của Toà án yêu cầu truy nã bị can, bị cáo, cơ quan điều tra ra ngay quyết định truy nã và thông báo quyết định truy nã theo đúng quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, niêm yết quyết định truy nã tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của bị can, bị cáo và sao gửi cho Viện kiểm sát hoặc Toà án đã yêu cầu truy nã.
...
4. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế các hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ về truy nã bị can, bị cáo.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 03/TTLN năm 1995
- Việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được hướng dẫn bởi Nghị định 61/2000/NĐ-CP

Để thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 của Bộ Luật Hình sự và các điều 227, 234, 237 và 238 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
...
Chương 1:NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
...
Chương 2:

NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
Chương 3:

TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁM SÁT, GIÁO DỤC NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
Chương 4:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
...


Xem nội dung VB
Việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được hướng dẫn bởi Nghị định 61/2000/NĐ-CP
- Việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được hướng dẫn bởi Nghị định 61/2000/NĐ-CP

Để thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 của Bộ Luật Hình sự và các điều 227, 234, 237 và 238 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
...
Chương 1:NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
...
Chương 2:

NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
Chương 3:

TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁM SÁT, GIÁO DỤC NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
Chương 4:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
...

Xem nội dung VB
Việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được hướng dẫn bởi Nghị định 61/2000/NĐ-CP
- Việc tổ chức xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù được hướng dẫn bởi Thông tư 01-BNV(V26) năm 1991

Để thi hành đúng Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ Nội vụ hướng dẫn việc tổ chức xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho phạn nhân như sau:
...
1. Phải quán triệt nội dung Thông tư liên ngành số 04/ 89 ngày 15 tháng 8 năm 1989.
...
2. Tổ chức Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
...
3. Thủ tục đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
...
4. Về hồ sơ đề giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Xem nội dung VB
Việc tổ chức xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù được hướng dẫn bởi Thông tư 01-BNV(V26) năm 1991
- Bảo quản tài sản là vật chứng được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư 06/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BT-BTPC

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 120 và 121 của Bộ Luật tố tụng hình sự,
...
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn một số vấn đề bảo quản, xử lý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự như sau:

I. BẢO QUẢN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN LÀ VẬT CHỨNG

Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải kịp thời xem xét, phân loại tài sản là vật chứng và tài sản không phải là vật chứng để có biện pháp bảo quản và xử lý phù hợp như sau:

1. Đối với tài sản không phải là vật chứng, thì cơ quan tiến hành tố tụng không được thu giữ, tạm giữ; nếu đã thu giữ, tạm giữ thì cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án phải trả lại ngay cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp các tài sản đó. Trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm thi hành án đối với các hình phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thường thiệt hại, thì cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền huỷ bỏ quyết định thu giữ, tạm giữ và ra quyết định kê biên đối với tài sản đó.

2. Đối với tài sản là vật chứng thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang thụ lý, giải quyết vụ án có trách nhiệm xem xét, phân loại để quyết định kịp thời những biện pháp bảo quản, xử lý thích hợp đối với từng loại vật chứng theo quy định của Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của vật chứng đối với tội phạm và người phạm tội, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh, tránh gây những lãng phí, thiệt hại không đáng có.

3. Đối với vật chứng là tài sản (kể cả các giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản) cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng về tên, mác, mã số, ký hiện, số lượng, trọng lượng, chất lượng, màu sắc, hình dáng và biên bản thu giữ, tạm giữ và đưa vào hồ sơ vụ án. Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án, thì phải được chụp ảnh để đưa vào hồ sơ vụ án. Phải có sổ sách ghi chép rõ ràng theo mẫu quy định về các tài sản này.
...
4. Đối với vật chứng là kho tàng, nhà xưởng, khách sạn, nhà, đất, cũng như các phương tiện sản xuất, kinh doanh khác, thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang thụ lý, giải quyết vụ án (sau đây gọi là cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án) có thể giao tài sản đó cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tiếp tục khai thác, sử dụng, nếu xét thấy những tài sản đó có khả năng sinh lời; nếu họ không có điều kiện khai thác, sử dụng, nhưng họ tìm được đối tác để khai thác, sử dụng, thì cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án có thể giao cho đối tác đó khai thác sử dụng tài sản sau khi đã có thoả thuận bằng văn bản giữa chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp với đối tác nhận khai thác, sử dụng tài sản; nếu họ không tìm được đối tác hoặc trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp, thì cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án có thể giao tài sản đó cho tổ chức, cá nhân có điều kiện khai thác, sử dụng trên cơ sở thoả thuận bằng văn bản giữa cơ quan đang thụ l, giải quyết vụ án và tổ chức, cá nhân nhận khai thác, sử dụng tài sản. Việc giao, nhận tài sản là vật chứng để khai thác, sử dụng được thực hiện như sau:
...
5. Đối với vật chứng là kho tàng, nhà xưởng, khách sạn, nhà, đất, cũng như các phương tiện sản xuất, kinh doanh khác mà trước đó bị can, bị cáo đã thế chấp, cầm cố để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán, thì cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án xử lý như sau:
...
6. Vật chứng là tài sản thuộc loại mau hỏng (như rau, quả, thực phẩm tươi sống, hoá chất...), thì cơ quan thu giữ tiến hành lập biên bản ghi rõ tình trạng vật chứng đó, tổ chức bán đấu giáo theo quy định của pháp luật và gửi tiền vào tài khoản tạm giữ mở tại Kho bạc Nhà nước, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát, Toà án, cơ quan tài chính cùng cấp và chủ sở hữu tài sản (nếu biết).

7. Đối với vật chứng là tài sản thuộc loại có quy định thời hạn sử dụng ngắn, tài sản đã gần hết hạn sử dụng hoặc việc bảo quản gặp khó khăn, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể và căn cứ vào hiện trạng vật chứng, sau khi trao đổi thống nhất ý kiến với Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan tài chính cấp, cơ quan đang bảo quản tài sản lập Hội đồng tổ chức bán đấu giá vật chứng đó và gửi số tiền thu được vào tài khoản tạm giữ mở tại Kho bạc Nhà nước, đồng thời thông báo cho chủ sở hữu tài sản (nếu biết).

8. Đối với vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, văn hoá phẩm. .., thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chuyển giao cho cơ quan chức năng để bảo quan. Việc giao nhận và bảo quản vàng, bạc, kim khí quý, đá quý và các tài sản có giá trị khác trong hệ thống Kho bạc được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 63/TCKBNN ngày 09-11-1991 của Bộ Tài chính.

Xem nội dung VB
Bảo quản tài sản là vật chứng được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư 06/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BT-BTPC
- Bảo quản và xử lý tài sản bị kê biên được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 06/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BT-BTPC

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 120 và 121 của Bộ Luật tố tụng hình sự,
...
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn một số vấn đề bảo quản, xử lý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự như sau:
...
II. BẢO QUẢN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BỊ KÊ BIÊN

1. Việc kê biên tài sản chỉ được áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định có thể bị tịch thu tài sản hoặc bị phạt tiền, cũng như đối với người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại. Có thể kê biên tài sản đang được cầm cố, thế chấp, nếu người phải thi hành án không còn tài sản nào khác và tài sản đó có giá trị lớn hơn khoản vay.

Không được kê biên những tài sản không thuộc diện kê biên theo quy định của pháp luật; nếu đã kê biên tài sản không thuộc diện kê biên hoặc khi xét thấy việc kê biên là trái pháp luật hoặc không còn cần thiết, thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 121 của Bộ luật tố tụng hình sự phải kịp thời ra quyết định huỷ bỏ lệnh kê biên.

Thủ tục kê biên phải theo đúng quy định tại Điều 121 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Sau khi kê biên xong, cơ quan tiến hành kê biên giao lại tài sản bị kê biên cho chủ sở hữu, thân nhân của họ hoặc giao cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản khai thác, sử dụng để tránh những lãng phí không cần thiết về kinh tế. Trong trường hợp tài sản kê biên được giao cho thân nhân của chủ sở hữu hoặc tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản khai thác, sử dụng, thì hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng tài sản đó được trả lại cho chủ sở hữu, sau khi đã trừ chi phí thực tế hợp lý cho việc bảo quản, khai thác, sử dụng và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Người được giao quản lý, khai thác, sử dụng tài sản bị kê biên không được mua bán, trao đổi, cầm cố, thế chấp hoặc có các hành vi định đoạt khác đối với tài sản được giao.

3. Căn cứ quyết định, bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án tiến hành xử lý tài sản bị kê biên như sau:

a) Tổ chức bán đấu giá theo quy định tại Điều 34 và Điều 36 của Pháp lệnh thi hành án dân sự và các quy định tại Quy chế bán đấu giá tài sản được ban hành kèm theo Nghị định số 86/CP ngày 19-12-1996 của Chính phủ để thi hành án về phạt tiền và bồi thường thiệt hại.

Số tiền bán đấu giá tài sản được chi trả cho các khoản tiền phạt và bồi thường thiệt hại, sau khi trừ các chi phí thực tế hợp lý cho việc bảo quản, khai thác, sử dụng và chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá; phần còn lại được trả lại cho chủ sở hữu tài sản.

Số tiền bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, nhận thế chấp hợp pháp sau khi trừ các chi phí cho việc bảo quản, khai thác, sử dụng và chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá; phần còn lại để thi hành án.

b) Sung quỹ Nhà nước một phần hoặc toàn bộ tài sản để thi hành quyết định tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xem nội dung VB
Bảo quản và xử lý tài sản bị kê biên được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 06/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BT-BTPC
Văn bản gốc
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 7-LCT/HĐNN8   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Võ Chí Công
Ngày ban hành: 28/06/1988   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 15/11/1988   Số công báo: Số 21
Lĩnh vực: Tố tụng và các phương thức giải quyết tranh chấp   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Bộ luật tố tụng hình sự 1988

3.428

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
37474