• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12
Thành viên
Đăng nhập bằng Google

Bộ luật hình sự 2015

Bản Tiếng Việt
Bản Tiếng Anh (English)
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 100/2015/QH13   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
Ngày ban hành: 27/11/2015   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 31/12/2015   Số công báo: Từ số 1263 đến số 1264
Lĩnh vực: Hình sự   Tình trạng: Đã biết

Kỳ họp Quốc hội vừa qua, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Hình sự với nhiều thay đổi so với Bộ luật hiện hành. Cụ thể nội dung một số thay đổi quan trọng như sau:

1. Xử lý hình sự đối với pháp nhân

Theo quy định của Bộ luật hình sự sửa đổi này thì pháp nhân thương mại cũng có thể bị xử lý hình sự (trước đây chỉ có cá nhân mới bị xử lý hình sự). Theo đó, pháp nhân sẽ bị xử phạt hình sự với các hành vi vi phạm sau:

  • Điều 188 (tội buôn lậu);
  • Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới);
  • Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm);
  • Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm);
  • Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả);
  • Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm);
  • Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh);
  • Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi);
  • Điều 196 (tội đầu cơ);
  • Điều 200 (tội trốn thuế);
  • Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ);
  • Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán);
  • Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán);
  • Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán);
  • Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm);
  • Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động);
  • Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh);
  • Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan);
  • Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp);
  • Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên);
  • Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng);
  • Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã);
  • Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường);
  • Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường);
  • Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông);
  • Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam);
  • Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản);
  • Điều 243 (tội huỷ hoại rừng);
  • Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm);
  • Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên);
  • Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại).

Pháp nhân phạm tội sẽ bị xử phạt theo các hình phạt sau:

  • Hình phạt chính bao gồm: Phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
  • Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; Cấm huy động vốn; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Bộ luật Hình sự mới này cũng quy định các biện pháp tư pháp đối với pháp nhân như sau:

  • Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
  • Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;
  • Khôi phục lại tình trạng ban đầu;
  • Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

Các nội dung khác được quy định cụ thể tại chương XI của Bộ luật mới này.

2. Hiệu lực áp dụng Bộ luật Hình sự

Theo quy định của Bộ luật Hình sự mới, Bộ luật này sẽ được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

Người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Việt Nam hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Tòa án Việt Nam có quyền xét xử về hành vi phạm tội đó.

Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định.

3. Xử lý hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội

Đây là một quy định mới tại Bộ luật Hình sự này, theo đó Người chuẩn bị phạm một trong các tội sau đây thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự:

a) Tất cả các tội về an ninh quốc gia trừ Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội và  Tội phá hoại chính sách đoàn kết (quy định ở điều 115, 116).

b) Điều 123 (tội giết người); Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác);

c) Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản);

d) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 300 (tội tài trợ khủng bố); Điều 301 (tội bắt cóc con tin); Điều 302 (tội cướp biển); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 324 (tội rửa tiền).

Cần lưu ý là người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi khi chuẩn bị phạm các tội ở điều 123,134, 168, 169 thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.

4. Che dấu tội phạm – không tố giác tội phạm

Về hành vi che dấu tội phạm, Bộ luật hình sự quy định trong trường hợp người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 389 của BLHS.

Về hành vi không tố giác tội phạm, Luật này cũng loại trừ trách nhiệm của người bào chữa, theo đó Người bào chữa sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự khi không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS.

5. Các trường hợp không phải là tội phạm

Bên cạnh các trường hợp phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ, Bộ luật Hình sự còn quy định thêm 3 trường hợp khác sẽ không phải là tội phạm, cụ thể:

  • Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
  • Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ
  • Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.

Theo đó, hành vi vi phạm pháp luật hình sự trong 3 trường hợp trên (và không vượt quá phạm vi) thì sẽ không phải là tội phạm.

6. Cải tạo không giam giữ - Tù có thời hạn – Tử hình

Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, BLHS có thêm quy định về lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

Về hình phạt tù có thời hạn thì BLHS quy định không áp dụng đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.

Về hình phạt tử hình thì Bộ luật mới quy định sẽ Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người từ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

Bên cạnh đó, cũng không thi hành án tử hình đối với người bị kết án thuộc các trường hợp sau đây:

  • Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
  • Người từ 75 tuổi trở lên;
  • Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

Với các trường hợp không thi hành án tử hình nêu trên thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.

7. Các tình tiết giảm nhẹ - tình tiết tăng nặng

Về tình tiết giảm nhẹ: BLHS mới bổ sung thêm 4 tình tiết giảm nhẹ sau:

  • Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
  • Người phạm tội là người từ 70 tuổi trở lên;
  • Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng;
  • Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Về tình tiết tăng nặng thì bộ luật mới đã bỏ 2 tình tiết là Xâm phạm tài sản của Nhà nước và Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; đồng thời bổ sung 1 tình tiết là Phạm tội 02 lần trở lên.

8. Miễn chấp hành hình phạt

Bộ luật hình sự quy định cụ thể: Người được miễn chấp hành hình phạt vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

9. Án tích

Theo quy định tại khoản 2 điều 69 thì Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.

Về việc đương nhiên được xoá án tích thì BLHS có quy định sửa đổi về thời gian xóa án tích, cụ thể là nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây thì sẽ đương nhiên được xóa án tích:

  • 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
  • 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
  • 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
  • 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Tương tự, thời gian xóa án tích theo quyết định của tòa án được quy định điều chỉnh như sau:

  • 03 năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm;
  • 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
  • 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án

Cần lưu ý là trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn nêu trên thì thời hạn đương nhiên được xoá án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

10. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự và các nguyên tắc xử lý với người phạm tội dưới 18 tuổi

Quy định tại BLHS mới này đã làm rõ những tội phạm mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi sẽ bị xử lý hình sự, cụ thể đó là những tội phạm sau:

  • Tội giết người;
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
  • Tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;
  • Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;
  • Tội cướp tài sản;
  • Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Hành vi được xác định là tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng tại một trong các điều sau:
    • Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);
    • Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
    • Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
    • Điều 265 (Tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);
    • Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);
    • Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

Ngoài ra, đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục theo quy định của Bộ luật này.

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm

Bên cạnh đó, BLHS mới này cũng có các quy định cụ thể về các biện pháp tư pháp như Giáo dục tại xã, phường, thị trấn, hòa giải tại cộng đồng.

Về việc Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thì BLHS cũng có các quy định cụ thể, riêng biệt với nhóm tuổi từ 14 đến dưới 16 và từ 16 đến dưới 18.

Về việc Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội thì BLHS cũng có quy định phân biệt đối với hành vi thực hiện khi người phạm tội dưới 16 tuổi và khi người phạm tội dưới 18 tuổi.

Về việc xóa án tích, quy định mới của BLHS quy định 3 trường hợp sau sẽ không bị xem là có án tích:

  • Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội
  • Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
  • Người bị áp dụng biện pháp tư pháp.

Đối với Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xoá án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.

11. Một số điểm mới khác

Theo quy định mới của BLHS thì sẽ có thêm 1 tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu đó là Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354.

Nội dung của Bộ luật hình sự này cũng bỏ quy định về việc Người phạm tội được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong trường hợp phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự trước khi bị kết án.

Đối với các vụ việc có đồng phạm thì Bộ luật mới cũng làm rõ: Người đồng phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Về hình phạt cụ thể thì với một số tội phạm BLHS đã bổ sung thêm 2 tình tiết định khung là “chuẩn bị phạm tội” và “Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân”.

12. Thay đổi về các tội phạm cụ thể

  • Phân tội “hoạt động phỉ” thành các tội riêng biệt như: “tội khủng bố”, “tội tài trợ khủng bố”, “tội bắt cóc con tin”, “tội cướp biển”
  • Phân “Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em” thành các tội riêng biệt như “Tội mua bán người dưới 16 tuổi” “Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi” “Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi”
  • Phân “Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm” thành 2 tội riêng biệt là “Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm” và “Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”.
  • “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh” phân thành 2 tội riêng biệt là “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm” và “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh”
  • Bỏ tội kinh doanh trái phép
  • “Tội giết con mới đẻ” sửa đổi thành “Tội giết hoặc vứt con mới đẻ”.
  • “Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” sửa đổi thành “Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội”
  • “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác” được bổ sung thêm tình tiết định khung mới là “Dùng a-xít sunfuric hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác”.
  • Giảm mức phạt tù đối với hành vi “hiếp dâm người dưới 13 tuổi” xuống còn từ 7 đến 15 năm. Đồng thời bổ sung mức phạt tù đối với hành vi  “hiếp dâm người dưới 10 tuổi” (20 năm tù, chung thân hoặc tử hình).
  • Bổ sung nhiều tội như “Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”, “Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân” “Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại”,  “Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán” “Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm” “Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp” “Tội gian lận bảo hiểm y tế” “Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động” “Tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản” “Tội vi phạm quy định về cạnh tranh” “Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng“ “Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại” “Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông” “Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh” “Tội cố ý gây nhiễu có hại” …
  • Dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi được sửa thành “cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” (trước đây, dấu hiệu xác định là cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột).
  • Điều chỉnh các dấu hiệu của “Tội phá thai trái phép” theo hướng làm rõ hơn thiệt hại do hành vi gây ra (Làm chết 01 người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể mỗi người từ 31% đến 60%; Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của tất cả những người này là 61% đến 121%;)

Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.

Từ khóa: Bộ luật hình sự 2015

37.773