• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004

Bản Tiếng Việt
Bản Tiếng Anh (English)
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 24/2004/QH11   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Nguyễn Văn An
Ngày ban hành: 15/06/2004   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 16/07/2004   Số công báo: Từ số 25 đến số 26
Lĩnh vực: Tố tụng và các phương thức giải quyết tranh chấp   Tình trạng: Đã biết

Ngày 15/06/2004, Quốc hội ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự 2004. 

Nội dung Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 gồm 9 phần, 36 chương và 418 điều, quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và trình tự, thủ tục yêu cầu để Toà án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân tại Toà án; thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật.
 
Theo đó, đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ.
 
 Toà án dân sự thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Trong đó, bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Ngược lại, bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
 
Trong tố tụng dân sự, các đương sự có các quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng, đều được: Tham gia phiên toà; Tranh luận tại phiên toà; Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Toà án theo quy định của Bộ luật này; Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành;…
 
 Trong đó, nguyên đơn ngoài các quyền nói trên còn có quyền: Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; Đề nghị Toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; Đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên nếu nguyên đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện.
 
 Đồng thời, bị đơn ngoài các quyền nói trên còn có quyền: Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; bác bỏ toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu; Được Toà án thông báo về việc bị khởi kiện. Trường hợp bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án giải quyết vắng mặt bị đơn.
 
Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền yêu cầu Toà án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.

Theo đó có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời như:

+ Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;

+ Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng;

+ Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm;

+ Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; 

+ Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động; Kê biên tài sản đang tranh chấp; Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp;

+ Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;

+ Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác;

+ Phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ;

+ Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ;

+ Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định hay các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định.

Tòa án phải chịu trách nhiệm bồi thường do việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây thiệt hại cho người bị áp dụng...

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2005. 

Từ khóa: Bộ luật Tố tụng dân sự 2004

13.815

Thành viên
Đăng nhập bằng Google