• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003

Bản Tiếng Việt
Bản Tiếng Anh (English)
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 19/2003/QH11   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Nguyễn Văn An
Ngày ban hành: 26/11/2003   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 06/01/2004   Số công báo: Từ số 5 đến số 6
Lĩnh vực: Tố tụng và các phương thức giải quyết tranh chấp   Tình trạng: Đã biết

Ngày 26/11/2003, Quốc hội ban hành Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003.

Nội dung Bộ luật tố tụng hình sự 2003 gồm  gồm 37 chương, 346 điều, quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Một số nội dung đáng chú ý như sau:

Thực hiện chế độ hai cấp xét xử

Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Khi không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

Ngược lại, bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Người tham gia tố tụng

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 quy định người tham gia tố tụng bao gồm: Người bị tạm giữ; Bị can; Bị cáo; Người bị hại; Nguyên đơn dân sự; Bị đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Người làm chứng; Người bào chữa; Người giám định; Người phiên dịch.

Biện pháp ngăn chặn.

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.

Trong đó, không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã; Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Đặc biệt, để giảm bớt biện pháp tạm giam, luật cho phép căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lãnh. Ngoài ra, luật cho phép được đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để thay thế biện pháp tạm giam.

Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 cũng quy định rất rõ thẩm quyền cũng như thủ tục các các giai đoạn tố tụng, gồm:

+ Giai đoạn Điều tra;

+ Giai đoạn truy tố;

+ Giai đoạn chuẩn bị Xét xử;

+ Giai đoạn xét xử;

+ Giai đoạn thi hành án.

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2004.

Từ khóa: Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003

48.435

Thành viên
Đăng nhập bằng Google