• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Bản Tiếng Việt
Bản Tiếng Anh (English)
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 101/2015/QH13   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
Ngày ban hành: 27/11/2015   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 31/12/2015   Số công báo: Từ số 1271 đến số 1272
Lĩnh vực: Hình sự   Tình trạng: Đã biết

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Luật 101/2015/QH13

Kỳ họp Quốc hội vừa qua, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng Hình sự với nhiều thay đổi so với Bộ luật hiện hành. Cụ thể nội dung một số thay đổi quan trọng như sau:

1. Thay đổi một số nguyên tắc trong tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự mới này đã bổ sung thêm một số nguyên tắc như không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm, tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra.

Bên cạnh đó, Bộ luật mới cũng sửa đổi tên gọi một số nguyên tắc như nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” sửa thành “Suy đoán vô tội”, nguyên tắc “Xét xử công khai” sửa thành “Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai”.

2. Cơ quan và người có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động điều tra

Đây là một nội dung mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, theo đó nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sẽ được giao cho các cơ quan sau :

  • Các cơ quan của Bộ đội biên phòng;
  • Các cơ quan của Hải quan;
  • Các cơ quan của Kiểm lâm;
  • Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển;
  • Các cơ quan của Kiểm ngư;
  • Các cơ quan thuộc CAND tại Luật tổ chức Cơ quan điều tra HS;
  • Các cơ quan thuộc QĐND tại Luật tổ chức Cơ quan điều tra HS.

Trong từng cơ quan sẽ có những người được giao nhiệm vụ điều tra, chẳng hạn như trong CAND người được giao nhiệm vụ gồm: Giám đốc, Phó giám đốc Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Giám thị, Phó Giám thị Trại giam, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng các đơn vị được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong Công an nhân dân; Cục trưởng, Phó cục trưởng;

Nhiệm vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm của các đối tượng trong hoạt động điều tra được quy định cụ thể tại các điều từ 36 đến 48 của Bộ luật này.

3. Về người tham gia tố tụng – người bào chữa

Những người tham gia tố tụng đã được Bộ luật Tố tụng hình sự mới bổ sung như sau:

  • Người tố giác, kiến nghị khởi tố, báo tin về tội phạm;
  • Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
  • Người bị bắt;
  • Người định giá tài sản;
  • Người chứng kiến.

Đối với bị can, bị cáo là pháp nhân, BLTTHS 2015 xác định người tham gia tố tụng sẽ là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân.

Đối với người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì Bộ luật mới này phân làm 2 đối tượng với 2 quy định riêng là “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố” và “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự”.

Đối với người bào chữa, bổ sung thêm 1 đối tượng là trợ giúp viên pháp lý. Ngoài ra, Bộ luật này cũng có định nghĩa cụ thể hơn về bào chữa viên nhân dân.

Theo đó,  bào chữa viên nhân dân phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành với Tổ quốc, có kiến thức pháp lý, có đủ sức khỏe nhằm bảo đảm khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự mới cũng quy định thêm nghĩa vụ cho Người bào chữa là người bào chữa không được tiết lộ thông tin về người bị buộc tội mà mình biết được bào chữa, trừ trường hợp có sự đồng ý bằng văn bản của người đó; ngoài ra người bào chữa cũng không được sử dụng thông tin đó nhằm mục đích xâm phạm lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.

Trường hợp bắt, giữ người thì thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng được tính là từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

4. Lựa chọn người bào chữa

Đây có thể xem là nội dung thay đổi quan trọng nhất của Bộ luật Hình sự này: trong trường hợp người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam để xác nhận việc từ chối.

Tương tự, nếu người bị buộc tội từ chối người bào chữa trong trường hợp người bào chữa được chỉ định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.

Bên cạnh đó, những người được lựa chọn người bào chữa cũng có thể là người thân thích của người bị buộc tội.

Việc chỉ định người bào chữa sẽ được thực hiện với bị can, bị cáo bị buộc tội có mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù, tù chung thân (trong khi trước đây chỉ áp dụng với mức phạt tử hình) hoặc người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng quy định Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước cho người bào chữa biết thời gian, địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia để thuận tiện cho người bào chữa thực hiện quyền, nhiệm vụ của mình...

Nếu đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước mà người bào chữa không có mặt thì hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành bình thường, trừ trường hợp quy định tại Điều 291 của Bộ luật này.

Khi gặp người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam thì người bào chữa phải xuất trình Giấy đăng ký người bào chữa, thẻ trợ giúp pháp lý, thẻ luật sư hoặc CMND.

5. Về việc ghi âm, ghi hình trong khi hỏi cung bị can

Bên cạnh quy định về việc lựa chọn người bào chữa thì quy định về việc hỏi cung bị can cũng đã có sự thay đổi lớn. Theo đó, bắt buộc phải ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Việc hỏi cung bị can diễn ra tại các địa điểm khác được ghi âm, ghi hình theo yêu cầu của bị can, của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, nếu không thể ghi âm, ghi hình được do trở ngại khách thì phải nêu rõ lý do trong biên bản hỏi cung.

6. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Đây là một nội dung hoàn toàn mới của Bộ luật Tố tụng Hình sự này. Theo quy định tại Bộ luật này, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các trường hợp sau:

  • Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội khủng bố, tội phạm về tham nhũng, tội rửa tiền, tội phạm về ma túy;
  • Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác có tổ chức.

Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt bao gồm:

  • Ghi âm, ghi hình bí mật.      
  • Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.
  • Nghe điện thoại bí mật.

Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt là không quá 02 tháng kể từ ngày VKS phê chuẩn. Nếu vụ việc quá phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra, truy tố.

Những thông tin, tài liệu thu thập được bằng việc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự mà không được dùng vào mục đích khác; phải tiêu hủy kịp thời những thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án.

Không được sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được làm ảnh hưởng đến bí mật đời tư, bí mật gia đình, an toàn cá nhân của người có liên quan hoặc có thể làm phát sinh hậu quả nghiêm trọng khác.

7. Chứng cứ

Quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự này làm rõ cũng như mở rộng phạm vi nguồn chứng cứ, theo đó chứng cứ sẽ được thu thập từ các nguồn sau:

  • Vật chứng;
  • Lời khai, lời trình bày;
  • Dữ liệu điện tử;
  • Biên bản về hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
  • Kết luận giám định, định giá tài sản;
  • Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
  • Các tài liệu, đồ vật khác.

Bộ luật này cũng luật hóa quy định: những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm chứng cứ, căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.

Việc thu thập chứng cứ được quy định tại Điều 88 và các điều liền kề khác của bộ luật này.

Đối với chứng cứ là Dữ liệu điện tử thì Bộ luật này định nghĩa như sau: “Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử”.

Chứng cứ loại này sẽ được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.

Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.

Việc thu thập dữ liệu điện tử sẽ thực hiên theo Điều 107 của Bộ luật.

Việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn liên quan tham gia. Trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu vào phương tiện lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng.

Khi thu giữ các phương tiện điện tử có thể thu thiết bị ngoại vi kèm theo và các tài liệu có liên quan.

8. Bổ sung biện pháp ngăn chặn “tạm hoãn xuất cảnh”

Về các biện pháp ngăn chặn thì Bộ luật Tố tụng hình sự mới này đã bổ sung thêm một biện pháp đó là “tạm hoãn xuất cảnh”.

Theo đó những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn thì sẽ bị bị tạm hoãn xuất cảnh:

  • Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị tình nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;
  • Bị can, bị cáo.

Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị kết án phạt tù không được vượt quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

9. Quy định về các biện pháp cưỡng chế

Theo Điều 113 của Bộ luật Tố tụng Hình sự trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản nhằm bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Việc áp dụng các biện pháp này được quy định ở ba Điều 127, 128, 129 của Bộ luật.

10. Các quy định về hồ sơ, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng

Các nội dung trên được luật hóa cụ thể ở chương VIII của Bộ luật tố tụng hình sự, bao gồm các quy định về: hồ sơ vụ án; văn bản tố tụng; biên bản; cách tính thời hạn; chi phí tố tụng và Trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng; việc cấp, giao, chuyển, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng và Thủ tục cấp, giao, chuyển văn bản tố tụng; trách nhiệm cấp, giao, chuyển, gửi, thông báo văn bản tố tụng; Thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng; Thủ tục thông báo văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng.

11. Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Đối với nội dung này, Bộ luật tố tụng Hình sự mới đã có những quy định khá rõ, khá cụ thể như: Các khái niệm, định nghĩa về “Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”; Việc “Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”; Thủ tục tiếp nhận “tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”; Thời hạn, thủ tục giải quyết “tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”; Vấn đề tạm đình chỉ cũng như phục hồi việc “giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”; Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết “tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”.

Bên cạnh đó, Bộ luật này cũng có quy định về việc Giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

12. Về việc trưng cầu giám định và định giá tài sản

Bộ luật Tố tụng Hình sự mới này đã có một chương riêng dành cho hoạt động Trưng cầu giám định và định giá tài sản này. Nội dung chương này quy định khá cụ thể về các vấn đề liên quan đến hoạt động giám định và định giá như: các trường hợp phải giám định, người được yêu cầu giám định, thời gian giám định, giám định lại, giám định bổ sung, giám định trong trường hợp đặc biệt, yêu cầu định giá tài sản, thời hạn định giá, định giá lại tài sản, định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn …

Theo quy định tại chương này thì Hội đồng định giá tài sản sẽ tiến hành việc định giá tài sản. Phiên họp định giá tài sản có thể thực hiện tại nơi có tài sản hoặc nơi khác theo quyết định của Hội đồng định giá tài sản.

Điều tra viên, KSV có thể tham dự phiên họp định giá tài sản, nhưng phải báo trước cho Hội đồng định giá tài sản biết; nếu được sự đồng ý của Hội đồng định giá tài sản thì có quyền đưa ra ý kiến.

13. Các vấn đề liên quan đến truy tố

Đây là phần được bổ sung khá nhiều trong Bộ luật Tố tụng Hình sự mới này, nhằm đảm bảo tính chính xác của hoạt động truy tố. Một số nội dung quan trọng được bổ sung như:

  • Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố.
  • Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố.
  • Thẩm quyền truy tố.
  • Áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế.
  • Tách, nhập vụ án trong giai đoạn truy tố.
  • Chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án.
  • Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án.
  • Phục hồi vụ án.

14. Các vấn đề liên quan đến xét xử

Trong phần này, Bộ luật Tố tụng Hình sự có bổ sung một vài quy định quan trọng, đặc biệt là quy định về việc nghe, xem nội dung được ghi âm, ghi hình .

Theo đó, trong trường hợp cần kiểm tra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án hoặc khi bị cáo tố cáo bị bức cung, nhục hình, Hội đồng xét xử quyết định việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm, ghi hình có liên quan tại phiên toà.

Trong phần khai mạc phiên tòa thì Bộ luật Tố tụng mới này cũng quy định thêm phần “Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản” và “Cam đoan của người làm chứng, cách ly người làm chứng”.

Ngoài ra, Bộ luật mới cũng quy định thêm một nội dung kiến nghị của tòa án là “kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản pháp luật”.

15. Các quy định với người chưa thành niên

Trong các nội dung liên quan đến xét xử đối với người chưa thành niên, Bộ luật Tố tụng Hình sự đã bổ sung các nguyên tắc trong việc xét xử như:

  • Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi.
  • Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi.
  • Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, đoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt.
  • Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi.
  • Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi.
  • Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
  • Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.

Người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi

Ngoài ra, Bộ luật mới còn có nhiều quy định cụ thể khác về việc xét xử người chưa thành niên như:

  • Xác định tuổi của người bị buộc tội là người chưa thành niên, xác định tuổi của bị hại là người chưa thành niên;
  • Giám sát đối với người bị buộc tội là người chưa thành niên;
  • Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
  • Xóa án tích;
  • Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khiển trách; áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng; áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; áp dụng áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

16. Các quy định về xét xử pháp nhân

Đây cũng là một quy định hoàn toàn mới trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 này, được ban hành để phù hợp với các quy định của Bộ luật Hình sự 2015 cũng được thông qua trong kỳ họp vừa rồi.

Nội dung này được quy định tại Chương XXIX của Bộ luật, với 16 điều, quy định về các nội dung như:

  • Khởi tố vụ án, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án;
  • Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân;
  • Người đại diện của pháp nhân tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người đại diện;
  • Kê biên tài sản của pháp nhân;
  • Phong tỏa tài khoản;
  • Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án;
  • Những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân  bị buộc tội;
  • Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân;
  • Thẩm quyền, thủ tục thi hành án đối với pháp nhân;

17. Áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc

Trong nội dung này, Bộ luật Tố tụng Hình sự đã có những quy định khá rõ ràng về việc áp dụng biện pháp chữa bệnh trong từng giai đoạn như: giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử, áp dụng đối với người đang chấp hành án phạt tù.

Khi có thông báo của Thủ trưởng cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh, thì cơ quan đã đề nghị hoặc VKS, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh yêu cầu Hội đồng giám định pháp y tâm thần tiến hành giám định về tình trạng bệnh của người bị bắt buộc chữa bệnh.

Căn cứ vào kết luận giám định về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

18. Thủ tục rút gọn

Về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, Bộ luật mới đã bổ sung thêm quy định về Thủ tục rút gọn trong xét xử phúc thẩm. Theo đó, thủ tục này sẽ được áp dụng trong các trường hợp sau:

  • Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo;
  • Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định để áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

Trong quá trình áp dụng thủ tục rút gọn, nếu thấy một trong các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn không còn hoặc vụ án thuộc trường hợp tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Thời hạn tố tụng của vụ án được tính tiếp theo thủ tục chung, kể từ khi có quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

Về thời hạn ra Quyết định truy tố của VKS thì Bộ luật này đã tăng thời gian từ 4 ngày lên 5 ngày.

19. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Đây là một nội dung mới được bổ sung của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Nội dung này gồm 7 điều bao gồm các nội dung sau:

  • Người được bảo vệ bao gồm: Người tố giác về tội phạm; Người làm chứng; Bị hại; Người thân thích người tố giác về tội phạm, người làm chứng, bị hại. Quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ được quy định ở khoản 2 điều 484.
  • Cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm: Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.
  • Các biện pháp bảo vệ bao gồm: Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ; Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; Giữ bí mật và yêu cầu những người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lai lịch, đặc điểm nhận dạng của người được bảo vệ; Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật; Các biện pháp bảo vệ khác.
  • Để đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ người được bảo vệ cần làm văn bản gửi đến cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. Trong trường hợp khẩn cấp, người được bảo vệ trực tiếp đề nghị với cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông qua các phương tiện thông tin liên lạc, nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản đề nghị.
  • Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo vệ.

Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ có hiệu lực thi hành từ 01/7/2016.

Từ khóa: Bộ luật tố tụng hình sự 2015

53.186

Thành viên
Đăng nhập bằng Google